Âm nhạc - Page 4

Âm nhạc - Tổng hợp các bài viết về nhac Việt và nhạc quốc tế đăng trên Blog Sơn Phước. Tất cả các bài viết đều thuộc bản quyền của tác giả.

/

Control – Milo Greene (2015)

Part of me keeps coming back
To the part of you

Sẽ không có một ca khúc nào trong Control – album thứ hai của Milo Greene – mang âm hưởng của album đầu tay phát hành ba năm trước. Ban nhạc đến từ Los Angeles này đã hy sinh thứ âm nhạc mà họ từng gọi là cinematic pop, để sáng tạo ra những giai điệu mới: dồn dập hơn, mãnh liệt hơn, đôi khi trôi tuột qua tai người nghe như một cơn sóng.

Milo Greene là một ban nhạc kỳ lạ; năm thành viên không ở cùng nhau nhưng thường xuyên trao đổi về âm nhạc qua email. Các bài hát trong đĩa nhạc đầu tay đều do cả năm cùng nhau sáng tác, nhưng kết quả lại rất bất ngờ. Tổng thể âm nhạc hòa vào nhau thành một khối mượt mà, dịu dàng và êm đềm. Nếu như chất folk mềm mại là yếu tố khiến cho đĩa nhạc đầu tay của Milo Greene được yêu thích, thì đến album thứ hai, âm nhạc của họ thiên hẳn về pop và rock. Xét về cấu trúc, Control gồm mười một bài, được chia làm hai phần PreludeInterlude rõ ràng. Đáng tiếc, nửa đầu tiên có vẻ dễ nghe nhưng lại không để nhiều ấn tượng như những gì ban nhạc đã từng làm.

Các ca khúc mở màn như White lies, On the fence, Save Yourself, Heartless thể hiện được hướng đi mới mà Milo Greene muốn theo đuổi. Người nghe sẽ thấy trống được sử dụng rất nhiều, nhưng không phải kiểu ồn ào như nhiều nhóm rock khác. Cách sắp xếp vocal thì vẫn như cũ, một số bài do giọng nữ hát, một số bài do giọng nam và vẫn có những khoảnh khắc cả hai cùng hòa vào nhau. Giai điệu chịu nhiều ảnh hưởng của âm nhạc thập niên 80, hơi giống cách Broken Bells thực hiện After the Disco. Tuy nhiên, điều đáng nói là các ca khúc có thời lượng khá ngắn (khoảng ba phút) nhưng lại thiếu điểm nhấn, nội dung cũng không có nhiều sự đặc biệt.

Control - Milo Greene review - Son Phuoc

Phải đến Parents’ HouseGramercy thì Milo Greene mới tạo được sự chú ý của người nghe trước khi bước sang nửa thứ hai của đĩa. Hai ca khúc được quyện vào nhau khá chặt chẽ, ngay khi ca khúc đầu tiên đang dồn dập ở cao trào thì ca khúc thứ hai nối vào một cách nhanh chóng. Parents’ House lặng đi ở vài giây đầu với tiếng rít như thể còi tàu. Giọng nam sau đó cất lên khá uể oải, tâm sự về nỗi lòng khi ở chung nhà với gia đình bạn gái: “At your parent’s house, I was never myself, And you were always someone else.” Lời nhạc đơn giản, người hát cứ thều thào lặp đi lặp lại câu hát ấy như than trách, mà chẳng làm được gì. Trong khi đó, Gramercy lại bắt đầu bằng một tràng cười. Một giọng nam khác cất lên, tinh thần cũng khác. Giọng nữ sau đó chen vào phần điệp khúc như đáp trả. Cứ thế, bài hát trôi đi rồi kết thúc trong đột ngột.

Nên nhớ, Milo Greene đặc biệt vì cả bốn trong năm thành viên đều có thể hát, và họ luân phiên bè phối cho nhau. Nói về tên gọi của album mới, Robbie Arnett – một thành viên trong nhóm – đã trả lời tạp chí Billboard: “Nhan đề nói lên ý tưởng về việc các thành viên sẽ được thể hiện nhiều hơn trong đĩa nhạc, dù là hát hay chơi nhạc cụ. Nó nói về việc chúng tôi trao đổi và chia sẻ sự điều khiển đó.” Theo đó, có thể hiểu rằng nửa đầu của Control không hề tập trung vào một chủ đề nhất định nào, mà các thành viên thay phiên nhau làm chủ từng ca khúc. Mỗi người đều được nói lên tâm sự của chính mình.

Những ai đã có ấn tượng sâu đậm với chất folk của Milo Greene trong đĩa đầu, hẳn sẽ ít nhiều thất vọng với Control. Đến nửa sau của đĩa thì âm nhạc của nhóm bắt đầu có nhiều tiết tấu hơn, nhưng dường như “vẫn chưa đủ” – như tên một ca khúc trong đĩa (Not Enough). Để giải mã về sự thay đổi lớn này, có thể cho rằng Milo Greene đang muốn hướng mở rộng đối tượng khán giả của mình, để có thể trở nên phổ thông hơn. Phần âm nhạc trong Control được sản xuất bởi Jesse Shatkin – người từng viết và sản xuất Chandelier cho Sia, cũng như một số album của Kelly Clarkson, Foster the People,… Hơn nữa, việc thay đổi hãng đĩa từ Atlantic sang Chop Shop phần nào cũng ảnh hưởng đến âm nhạc của nhóm.

Nhìn chung, Control không phải là một album quá tệ, vẫn có những khoảnh khắc Milo Greene để cho âm nhạc của mình trầm lại, như ở hai bài hát cuối cùng kết thúc album (Lonely Eyes, Royal Blue). Chất nhạc hoài cổ này có thể cũng sẽ khiến một số khán giả thích thú. Tuy nhiên, sẽ dễ dàng hơn nếu xem Milo Greene như một nhóm nhạc mới toanh, thay vì so sánh với thứ âm nhạc “gần như hoàn hảo” mà họ đã từng thực hiện trong album đầu.

Liên quan:
Milo Greene – Milo Greene (2012)

Control - Milo Greene review cover - Son Phuoc

Hoàng Quyên Về Với Nhạc Xưa
//

Hoàng Quyên: ‘Về’ với nhạc xưa

Hai mươi ba tuổi, người ta học nhảy, làm nhạc điện tử, nhạc EDM cho hợp xu hướng. Hoàng Quyên thì khác, cô tìm cách quay trở lại với những ca khúc nhạc xưa, nhưng vốn không bao giờ cũ trong lòng công chúng yêu nhạc.

Là một ca sĩ trẻ, nhưng Hoàng Quyên lại có những bước đi rất quyết liệt trên con đường sự nghiệp của mình. Tính đến nay, cô đã cho ra đời ba đĩa nhạc tác giả, bao gồm: Phác thảo mùa thu (Đặng Hữu Phúc), Cửa thơm mùi nắng (Lê Minh Sơn)Góc Em (Trần Viết Tân). Đáng chú ý là cả ba đĩa nhạc đều hướng đến đối tượng người nghe nhỏ, hẹp – đa phần là lớn tuổi, có đòi hỏi cao về thẩm mỹ – hơn là khán giả trẻ. Thực tế thì Hoàng Quyên đã từng thử chinh phục khán giả trẻ, bằng cách tham gia cuộc thi Vietnam Idol năm 2012 và phát hành một đĩa EP trực tuyến mang tên Người em đã yêu. Bản thân cô cũng là một cái tên khá được yêu thích, nhưng các sản phẩm cô thực hiện cho thấy một cá tính âm nhạc riêng biệt so với những ca sĩ đồng trang lứa.

Ve review Hoang Quyen - Son Phuoc

Về là đĩa nhạc thứ tư của Hoàng Quyên, cũng là đĩa nhạc thứ hai của cô được phát hành trong năm nay (bên cạnh Góc em). Khác với ba đĩa trước, lần này cô chọn hẳn dòng nhạc xưa, với bảy ca khúc đều là những ca khúc quen thuộc với các khán giả lớn tuổi. Nói không ngoa, lần này Hoàng Quyên muốn “chiều” đối tượng khán giả lớn tuổi của mình, hơn là tìm cách làm mới các ca khúc nhạc xưa để phù hợp với khán giả trẻ. Cách xử lý các ca khúc của cô thiên về trau truốt, kỹ thuật, vừa đủ để khoe giọng hát vốn đẹp và hiếm. Phần hòa âm phối khí cũng sử dụng những nhạc cụ mang âm hưởng thính phòng (kèn clarinet, đàn accordion, cello) kết hợp với dân tộc (sáo, nhị, đàn tranh), tạo cảm giác hoài cổ cần có, đúng như tên gọi của đĩa nhạc đã gợi mở.

Ở ca khúc đầu tiên, Giọt nước mắt ngà (Ngô Thụy Miên), bắt đầu bằng phần đàn dây réo rắt, nghe rất não nề. Trái lại, Hoàng Quyên hát về cuộc tình buồn một cách rất thản nhiên, như thể mọi chuyện xảy ra là do số phận. Cô nhìn về dĩ vãng và chấp nhận sự thật đó. Nhưng lý trí làm sao ngăn được cảm xúc, khi mà bỗng nhiên nước mắt chợt tuôn rơi. Trong Ru đời đi nhé (Trịnh Công Sơn), nữ ca sĩ tiếp tục sử dụng cách hát thản nhiên của mình. Giữa tiếng piano chậm rãi giữ nhịp, cô bước từng bước nặng trịch trên con đường cô quạnh. Kịch tính dồn vào phần điệp khúc mỗi khi tiếng đàn dây rít lên, thi thoảng lồng vào tiếng sáo càng làm cho không khí trở nên ngột ngạt. Nhưng phải đến Hẹn hò (Phạm Duy), phần đàn dây mới phát huy hết “công suất” của mình khi trở thành “cột sống” của bài hát. Phần dàn dây khiến mỗi bài hát trôi qua như một tiếng thở dài đến mệt nhoài. Chính vì vậy, Hoàng Quyên không cần “làm màu” trong cách hát của mình. Cô không ngắt nhịp, không lên xuống, thủ thỉ như cách nhiều người từng thể hiện bài hát này, mà trở thành một người kể chuyện thẳng thắn, trung thực.

Ve review Hoang Quyen - Son Phuoc 2

Song, những ca khúc mang sự tươi mới trong Về lại là những ca khúc sử dụng tiết chế đàn dây, thậm chí phần hòa âm càng tinh giảm thì giọng hát của Hoàng Quyên lại càng sáng đẹp. Chẳng hạn như Bài không tên số 8 (Vũ Thành An) được phối theo phong cách blue jazz nhẹ nhàng, dễ chịu, nhưng cách xử lý bài hát của Hoàng Quyên lại có chút kiêu kỳ. Hay trong bản acoustic Về đi em (Trần Tiến) với tiếng guitar chủ đạo, cô chọn cách hát bùng nổ, thể hiện nội lực. Hoàng Quyên vốn hát những ca khúc viết về làng quê rất dạt dào cảm xúc (như À Í A trong Cửa thơm mùi nắng) và có lẽ đây là một thế mạnh mà cô nên phát huy. Trong khi Để em mơ (Nguyễn Cường) lại là một sắc thái hoàn toàn trái ngược. Bản phối chuyển hẳn về acappella, giọng Hoàng Quyên mềm mại, nữ tính, nũng nịu như muốn đem cả mùa xuân về.

Đĩa nhạc khép lại bằng Đưa em tìm động hoa vàng (Phạm Duy) với bản phối có thể nói là vừa vặn nhất với cách hát thư thả của Hoàng Quyên từ đầu đĩa. Cô không hề gồng mình khi thể hiện bất cứ ca khúc nào. Điều đó khiến cho các ca khúc dù đều rất nổi tiếng, từng gắn liền với tên tuổi nhiều ca sĩ, nhưng lại không trở thành cái áo quá khổ đối với nữ ca sĩ. Với Về, Hoàng Quyên chứng tỏ rằng mình không chỉ có một giọng hát thuộc dạng quý hiếm, mà cách cô đang đi trên con đường âm nhạc của mình cũng thực sự đáng quý.

Ve review Hoang Quyen - Son Phuoc album
'Short Movie' - Cuốn phim hành trình bằng âm nhạc của Laura Marling
/

‘Short Movie’ – Cuốn phim hành trình bằng âm nhạc của Laura Marling

Short Movie là album phòng thu thứ 5 của Laura Marling. Đây là album đầu tiên cô dùng nhạc cụ điện tử, được thu âm tại Mỹ chứ không phải Anh.


Nếu phải chọn một gương mặt xứng đáng là “hậu duệ” của Joni Mitchell, chắc chắn không thể bỏ qua Laura Marling. Dễ nhận thấy hình ảnh của Mitchell hiện rõ qua phong cách của Marling. Từ cách cô ôm đàn guitar, ngồi ngân nga những bản folk do mình sáng tác; đến cách viết lời ca khúc đậm chất tự sự và ngập tràn cảm xúc, theo kiểu một người kể chuyện.

Hành trình từ Anh đến Mỹ

Laura Marling phát hành album đầu tay khi vừa tròn 18, sớm hơn Joni Mitchell những 7 năm. Alas, I Cannot Swim bao gồm tất cả các ca khúc do cô sáng tác và thể hiện. Trong 5 năm, cô thực hiện liên tiếp 4 album – một con số đáng ghen tị với bất cứ nghệ sĩ nào.

Mỗi album ra đời sau của Marling đều có sự thay đổi nhất định, thậm chí hay hơn album trước. Chẳng hạn album thứ tư – Once I Was an Eagle (2013) – nhận được rất nhiều lời tán thưởng từ giới phê bình. Một đĩa nhạc thất tình u tối nhưng cũng đầy bản lĩnh. Người hát thẳng thừng tuyên bố, trong tình yêu mình là “đại bàng”, còn đối phương chỉ là “bồ câu”, để rồi “tôi sẽ bay ở trên cao, săn tìm anh.”

Thành công của Once I Was an Eagle trở thành sức ép quá lớn với một người luôn đề cao sáng tạo như Laura Marling. Sau khi album ra mắt, cô chuyển đến Los Angeles sống một thời gian để thay đổi không khí. Song, chuyến xê dịch lại càng đem đến nhiều khó khăn. Những bản nháp cho album thứ 5 không khiến Marling hài lòng. Cô phải từ bỏ âm nhạc trong vòng 6 tháng để tìm nguồn cảm hứng mới.

Cuối 2014, Maring trở về Anh với hình ảnh hoàn toàn mới. Mái tóc cắt ngắn, trên tay là cây guitar điện tử. Sự hào nhoáng của L.A. phần nào ảnh hưởng đến âm nhạc lẫn con người cô. Chất folk mộc mạc nay đã pha chút rock sôi nổi.

“Sống ở đây là trò chơi mà tôi không biết cách chơi”­, Laura đã hát như thế trong Short Movie (Don’t Let Me Bring You Down). Album được thực hiện tại Mỹ, ghi lại toàn bộ cảm xúc trong khoảng thời gian sống tại nơi đất khách quê người. Nỗi cô đơn, lạc lõng, mất mát và kiếm tìm. “Một cuốn phim ngắn” – như cách Laura Marling đặt tên album.

Laura Marling trở lại với mái tóc ngắn lạ lẫm trong Short Movie.
Laura Marling trở lại với mái tóc ngắn lạ lẫm trong Short Movie.

Short Movie mang sắc thái khác lạ so với Once I Was an Eagle. Âm nhạc vui tươi, rộn ràng hơn, nhưng lời hát lại yếu đuối và đầy lo sợ. Chẳng hạn như ca khúc đầu tiên, Warrior, một bản intro đầy nỗi niềm. Laura Marling chuyển mình, từ vị trí của một kẻ cầm cương, trở thành chú ngựa chiến lang thang tìm kiếm chàng dũng sĩ của mình, trong vô vọng.

Toàn bộ ca khúc là hình ảnh ẩn dụ cho việc cô rời bỏ quê nhà để đến với vùng đất mới. Nhạc điệu chậm rãi, lời hát uể oải, Laura như đang lê từng bước chân trên con đường mòn mà không hề biết đích điểm. Khí chất và sự tự tin ở đĩa nhạc trước đã hoàn toàn bay biến. Đến khi kết bài, người hát vẫn ôm trong lòng câu hỏi: “Where is the warrior I’ve been looking for?” (“Chàng dũng sĩ tôi kiếm tìm hiện đang ở đâu?”)

“Cuốn phim ngắn” trở nên thú vị hơn khi bass và trống hòa cùng guitar điện tử ở bài thứ hai, False Hope. Trong khi người nghe vẫn còn lạ lẫm với những âm thanh chưa từng có trong âm nhạc của Laura trước đây, thì cô lại hát về cảm giác xa lạ của mình khi ở Los Angeles. Một cơn bão ập đến thành phố, mất điện khiến cho cả khu phố dưới chìm trong bóng tối. Ở phố trên người ta đang tiệc tùng mà cô lại cảm thấy mình không thuộc về nơi đó. “Và vấn đề tồi tệ nhất là tôi không ngủ về đêm”, cô hát.

Tiếp đó là Don’t Let Me Bring You Down, một ca khúc uptempo có cấu trúc tương tự. Âm nhạc ban đầu nhẹ nhàng, rồi từ từ bùng nổ. Laura Marling thong thả để giọng chìm giữa tiếng guitar, bass và trống đan xen, hệt như cách cô vượt qua bóng tối ở L.A. Lời hát thì vẫn chưa thoát khỏi được sự hoang mang: “Love seems to be some kind of trickery… I’m not sure I can do it.” (“Có vẻ tình yêu là một mánh khóe gì đó… mà tôi không chắc mình làm được”)

Tình yêu vẫn là chủ đề chính mà Laura Marling muốn thể hiện. Song, người hát trở nên mềm yếu và vụn vỡ hơn trước. Điều đó cũng thể hiện trong cách sắp xếp các bài hát. Cô không tìm cách liên kết các bài hát với nhau hay chia đĩa nhạc làm hai phần như trong Once I Was an Eagle, mà đặt những bản nhạc nhanh và chậm xen kẽ với nhau, theo trật tự cuộc hành trình của mình. Đó là khi cô tìm thấy tình yêu mới (I Feel Your Love) rồi lại để vụt mất (Don’t Let Me Bring You Down), khi cô chuyển từ căn hộ ở phía Tây (False Hope) để trở về quê nhà ở phía Đông (How Can I).

Dùng nhạc điện tử là một thay đổi lớn với Laura Marling, nhưng cô không hề lạm dụng. Những ai yêu mến tiếng guitar mộc của Laura vẫn có thể thỏa mãn với những bản tình ca buồn như I Feel Your Love, How Can I, Divine – gợi nhớ đến Joni Mitchell một thời của đĩa Blue (1971). Trong khi đó, những bản folk-rock như Walk Alone, Easy, hay Howl, với giai điệu nhẹ nhàng, cũng khoe được chất giọng nhiều cảm xúc của người hát.

Short Movie là album đầu tiên Laura Marling dùng nhạc điện tử.
Short Movie là album đầu tiên Laura Marling dùng nhạc điện tử.

Cách hát của Laura Marling trong Short Movie cũng có một vài sự thay đổi, nghe thoải mái như đang chơi đùa. Cô hát như nói trong Strange, quở trách một người đàn ông đã có gia đình nhưng lại yêu cô. Một bài hát lạ lùng như cái tên của chính nó.

Gurdjieff’s Daughter là một trong những ca khúc xuất sắc nhất album. Bài hát lấy cảm hứng từ những lời George Gurdjieff từng truyền lại cho con gái.

Laura Marling liên tục nhắn nhủ với người nghe, như đang tự nhủ với chính mình. Cô hát: “Never give orders, just to be obeyed”, “Don’t be impressed by strong personalities”,… Đến điệp khúc, Laura lại thú nhận chân thành, thi thoảng mình cũng khóc vì những điều đó.

13 sáng tác trong album đủ sức để làm nên một “cuốn phim dài”, với tất cả nỗi niềm chất chứa. Nhưng với Laura, sáng tác trước hết là một cách tìm hiểu chính mình, thay vì chia sẻ với người khác. “Tôi càng tập trung vào sáng tác, tôi càng thấu hiểu bản thân”, cô nói.

Short Movie tiếp tục chứng tỏ tài năng và bản lĩnh của Laura Marling. Album được chăm chút, cẩm thận cho thấy nữ ca sĩ luôn đề cao sự sáng tạo hơn danh tiếng. Dù thắng giải Brit năm 2011, cái tên Laura Marling chưa bao giờ thuộc về đám đông. Bằng chứng là cô đã tìm cách rời bỏ Anh quốc, để rồi khi trở về, cô vẫn tự nhận mình “chỉ là một cô gái có thể chơi guitar” – lời bài hát Short Movie.


Nên nghe thử: How Can I, Gurdjieff’s Daughter, False Hope.

Tham khảo: Song For Daughter.

https://sonphuoc.com/song-for-our-daughter-tam-biet-tho-ngay/
‘193’ – Con số bí ẩn của Đoàn Thúy Trang
/

‘193’ – Con số bí ẩn của Đoàn Thúy Trang

Dù chiến thắng tại chung kết Sao Mai 2011, nhưng Đoàn Thúy Trang lại không phải là cái tên quá nổi bật tại cuộc thi Sao Mai Điểm Hẹn 2012. Điều đó chứng tỏ rằng một ngoại hình ổn và giọng hát tốt chưa chắc đã giúp bạn chinh phục thành công khán giả – mục tiêu vốn đa dạng và khó đoán. Một năm sau, Tình yêu màu nắng ra đời, giúp Đoàn Thúy Trang gây sốt suốt một thời gian, và nếu nhìn lại, thì (có lẽ) cô là thí sinh được biết đến nhiều nhất giai đoạn hậu Sao Mai Điểm Hẹn. Nhưng phải đến hai năm sau, người nghe mới được thưởng thức đĩa nhạc đầu tay của Đoàn Thúy Trang, mang tên 193. Để nhận xét ngắn gọn, thì sau một thời gian chờ đợi tương đối dài như vậy, 193 chỉ mới làm người nghe thỏa mãn phần nào.

Về mặt cấu trúc, 193 gồm bảy ca khúc, trong đó có hai bài cũ được đặt ở cuối đầy cố ý là Tình yêu màu nắngDệt những yêu thương – ca khúc vẫn được xem là Tình yêu màu nắng 2 (cả hai bài đều có sự tham gia của giọng rap BigDaddy). Có thể thấy được sự tự tin cũng như ý định của ê kíp thực hiện đĩa nhạc trong việc sắp xếp thứ tự ca khúc như vậy. Theo đó, 193 sẽ giới thiệu những sáng tác mới trước, cho thấy rằng âm nhạc của Đoàn Thúy Trang vẫn còn nhiều điều để nói đến, chứ không chỉ riêng gì Tình yêu màu nắng. Thế nhưng, về tổng thể thì cả năm ca khúc mới lại chưa đủ “sức mạnh” để có thể hoàn thành nhiệm vụ đó một cách trọn vẹn.

Ca khúc đầu tiên, Anh đến từ giấc mơ, cũng là ca khúc sáng giá nhất trong đĩa. Trên nền nhạc dance-pop đậm chất chill-out, Đoàn Thúy Trang thủ thỉ từng lời hát, dẫn dắt người nghe bước vào giấc mơ của mình: “Giấc mơ mình sánh đôi, ngỡ như vừa mới thôi.” Bản phối cùng cách hát ấy khiến người nghe dường như cũng quên đi thực tại hoàn toàn trái ngược: “Dẫu cho dù sớm mai, thấy anh cùng với ai.” Một ca khúc thất tình (breakup song) mà nghe không hề đau đớn, buồn bã, hay não nề, mệt mỏi. Trái lại, bản phối trở nên rộn ràng bởi những âm thanh điện tử trẻ trung, hiện đại, thổi vào bài hát một sức sống riêng. Toàn bộ cảm xúc của người hát dồn vào phần điệp khúc, nghe có một chút trách móc: “Từng ngày từng ngày từng ngày qua, chẳng để lại điều gì ngọt ngào mà càng làm mình thêm cách xa.” Phần điệp khúc ấy đột ngột dâng lên như thủy triều, rồi lại đổ dồn vào cuối bài khép lại giấc mơ vẫn còn dang dở.

193 - Doan Thuy Trang album cover son phuoc

Đảm nhận phần sáng tác cho 193 là Phạm Thanh Hà – chồng mới cưới của Phạm Thúy Trang. Tên gọi của đĩa nhạc bắt nguồn từ ngày cưới của cặp đôi, mang ý nghĩa như là một sản phẩm được kết thành từ tình yêu của cả hai. Hẳn là vì thế, nên xuyên suốt 193 không hề xuất hiện sắc màu u ám, ủ rũ mà luôn dịu dàng và ngọt ngào. Nhưng phải nói rằng chính phần hòa âm phối khi của Nguyễn Thanh Bình mới là yếu tố khiến 193 nổi bật hơn so với các đĩa nhạc pop khác (Phạm Thanh Hà và Nguyễn Thanh Bình cũng là những người đã giúp cho Phạm Thúy Trang đạt được thành công với Tình yêu màu nắng). Chẳng hạn, ca khúc thứ hai – Cầm tay anh – viết tiếp giấc mơ của Đoàn Thúy Trang bằng một bản phối được hoán đổi đến ba lần, pha trộn uyển chuyển giữa trip hop và nu jazz. Vội đến vội đi lại là một bản R&B có tiết tấu nhanh, với một tâm trạng đối lập, khi tỉnh giấc thì “lời yêu đó đã vỗ cánh bay rồi…

Vẫn luôn được giới thiệu như là một đĩa nhạc hòa trộn hoàn hảo giữa hai yếu tố truyền thống và hiện đại – giữa nhạc cụ dân tộc Việt Nam và âm nhạc thế giới, nhưng thực sự thì điều đó chỉ hiện rõ ở hai bài cuối cùng của 193, vốn là hai bài cũ. Để nhận xét, thì cả Tình yêu màu nắng lẫn Dệt những yêu thương đều là những bài hát dễ thương và phù hợp với đối tượng khán giả trẻ. Cách lồng phần đọc rap vào giữa bài pop cũng không lạ đối với âm nhạc quốc tế, nhưng không phải ca khúc nào của Việt Nam cũng thành công trong việc này. May mắn là, phần giọng của BigDaddy không khiến cho bài hát trở nên chói hay gượng, mà quyện vào bài hát rất ngọt.

Điều khiến cho 193 chưa làm người nghe thỏa mãn, là phần thời lượng quá ngắn, số bài hát mới quá ít. Dù Đoàn Thúy Trang đã chọn được cho mình một phong cách âm nhạc khá phù hợp, nhưng cô và ê kíp của mình lại chưa quyết liệt đi đến tận cùng của con đường ấy. Hai bản pop ballad Có phải anh làCó anh bên em mãi không dở, nhưng lại không nhiều điểm đặc biệt giữa một “rừng” các ca khúc pop ballad đang có trên thị trường Việt Nam hiện nay. Chính vì vậy, dù 193 đã chứng minh được rằng Đoàn Thúy Trang không phải mà một “one-hit wonder” – cụm từ ám chỉ các ca sĩ chỉ nổi tiếng với một ca khúc, nhưng chính cô cũng đã tự mình bỏ lỡ cơ hội để tạo ra một đĩa nhạc xuất sắc.

Giải Mã Âm Nhạc Của Vũ Cát Tường
Giải Mã Âm Nhạc Của Vũ Cát Tường
/

‘Giải Mã’ âm nhạc của Vũ Cát Tường

‘Giải Mã’, album đầu tay của nữ ca nhạc sĩ Vũ Cát Tường, thực hiện bởi Huy Tuấn, dù chưa hoàn hảo, vẫn cho thấy một cá tính âm nhạc độc đáo.


Có gì để nói về Vũ Cát Tường?

Ngoài việc cô là một ca – nhạc sĩ trẻ khá thành công với một vài ca khúc được yêu thích, cũng như chủ động xây dựng cho mình phong cách trình diễn nam tính, từ đầu tóc cho đến quần áo.

Hình tượng tomboy của Vũ Cát Tường

Ở Việt Nam, có rất nhiều nam ca sĩ nữ tính, nhưng số nữ ca sĩ nam tính thì chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Phong cách và hình ảnh của Vũ Cát Tường được định hình rất rõ ràng trong suốt quá trình cô tham gia cuộc thi Giọng Hát Việt 2013 – nơi cô lọt vào đến đêm chung kết. Cũng nhờ cuộc thi này, mà cái tên Vũ Cát Tường đã trở nên quen thuộc với đông đảo khán giả, đặc biệt là khán giả trẻ.

Vì vậy, đĩa nhạc đầu tay mang tên Giải Mã của Vũ Cát Tường không mang nhiệm vụ giới thiệu bản thân, mà đơn giản là thể hiện những gì cô đã và đang làm rất tốt, ở cả hai vị trí ca sĩ lẫn nhạc sĩ.

Chín ca khúc trong đĩa do Vũ Cát Tường sáng tác, đều viết về tình yêu, nhưng là khi cuộc tình đã đứt đoạn. Một điều đáng chú ý là phần lớn trong số đó được viết dưới góc nhìn của một người đàn ông (xưng “anh” – gọi “em”). Ngay cả khi hoán đổi cách xưng hô, thì cách hát của Vũ Cát Tường vẫn rất nữ tính và giàu tình cảm, trái ngược với vẻ ngoài nam tính của cô.

Phần âm nhạc được sản xuất bởi Huy Tuấn, khi thì sử dụng những âm thanh điện tử bắt tai, phù hợp với giới trẻ (Phai Màu, Hẹn Yêu), khi lại đơn giản hóa để nữ ca sĩ được thể hiện cảm xúc của mình (Hẹn Yêu, Vết Mưa).

Ngoài âm nhạc chủ đạo là R&B và pop ballad, có thể thấy sự “chuyển mình” của Vũ Cát Tường trong cách viết một vài ca khúc. Chẳng hạn như Anh và anh, được phối pop-rock mạnh mẽ, xoáy thẳng ngay vào phần điệp khúc, là sự giằng xé giữa “nhớ” và “quên”. Hay Hôn, Vũ Cát Tường sử dụng nhiều câu từ hoa mỹ khác hẳn với sự đơn giản ở những bài trước, như: “môi trầm”, “sầu bi”, “hương nồng”, “giấc thơm”,…

May mắn là, bài hát nghe không buồn bã hay mệt mỏi, mà nhẹ nhàng, dễ chịu, dù vẫn là một bài hát về sự chia ly. Bản phối acoustic với guitar của Đông ở cuối đĩa cũng là một điểm nhấn khác biệt với các ca khúc còn lại. Cách hát của Vũ Cát Tường đơn giản, nhưng mạnh mẽ và dứt khoát chứ không thiên về luyến láy như bản của Trúc Nhân.

'Giải Mã' là album đầu tay của nữ ca nhạc sĩ Vũ Cát Tường
‘Giải Mã’ là album đầu tay của nữ ca nhạc sĩ Vũ Cát Tường

Pop ballad là thế mạnh

Dù đi theo nhiều dòng nhạc, một lần nữa Giải mã khẳng định pop ballad vẫn là sở trường của Vũ Cát Tường.

Trong Niềm yêu khác, cô vào vai một người đàn ông để mất tình yêu của mình vào tay một người khác – nhưng thay vì hờn giận, trách móc, lại là một sự chấp nhận âm thầm trong cay đắng.

Tương tự là Yêu xa, với lời hát đơn giản mà chân thật, viết về sự chia ly tạm thời của một đôi lứa đang phải cách xa (“Khoảng cách giết đôi ta trong phút giây”). Bài hát kết thúc với niềm tin một ngày được trở về bên nhau, nhưng nghe không dấu dược nỗi buồn.

Đến Vết mưa thì Vũ Cát Tường không còn che đậy dòng cảm xúc của mình. Cô chứng tỏ rằng không ai có thể hát ca khúc này hay bằng người sáng tác ra nó.

Cơn mưa xuất hiện xuyên suốt bài hát là minh chứng duy nhất cho cuộc tình buồn. Cùng một chiều mưa lạnh nhưng ở hai tâm trạng đối lập nhau – khi ở bên người yêu và khi chứng kiến cô ấy ở bên một người khác – cứ thế, thay đổi luân phiên. Cuối cùng, người hát đành phải ra về một mình trong đêm mưa giá lạnh, hy vọng cơn mưa sẽ xóa hết nỗi đau trong lòng.

Nhìn chung, Giải mã là một đĩa nhạc đầu tay có chất lượng tốt, nhưng thực sự là Vũ Cát Tường lại không cho khán giả nhiều điều để “giải mã” như tên gọi của đĩa. Các sáng tác của cô gần gũi và dễ cảm, cách hát cũng không quá màu mè.

Song, phần âm nhạc của Huy Tuấn lại chỉ dừng ở mức an toàn: vẫn là những giai điệu quen thuộc, chiều tai khán giả thay vì thử nghiệm điều gì đó mới mẻ, gai góc và khác biệt hơn. Dẫu sao, đây cũng là một đĩa đầu tay xứng đáng để nhiều ca sĩ trẻ khác phải ganh tị.

Nhạc Việt Catalogue 2014: những album đáng chú ý
//

Nhạc Việt Catalogue 2014: Trung Quân đột phá với ‘Khởi hành’

Bài viết nằm trong chuyên mục “Nhạc Việt Catalogue” được lập ra với mục đích tổng hợp lại một số album nhạc Việt đang chú ý qua mỗi năm.

Bài viết và chuyên mục sẽ được cập nhật nếu cần thiết (tác giả ghi nhận mọi ý kiến đóng góp).
(Cập nhật 19/7/2021).


Năm nay không có những đĩa nhạc gây được tiếng vang ngay từ khi ra mắt như Tâm (Mỹ Tâm), Cánh Cung 3 (Đỗ Bảo & Hà Trần), Độc Đạo (Tùng Dương). Trái lại, năm 2014 là sự tấn công ồ ạt của những gương mặt trẻ, mà đối với tôi, có những người hoàn toàn mới lạ. Những cây viết mới như Huyền Sambi, Mew Amazing, Trần Trung Đức. Nhà sản xuất mới có Khắc Hưng (Khởi Hành), Nguyễn Hoàng Anh, Nguyễn Hoàng Gia và Nguyễn Bá Hùng Lân (Dung Nham), Đỗ Hiếu (Gặp Tôi Mùa Rất Đông). Một tín hiệu đáng mừng giúp cho âm nhạc Việt Nam ngày càng đa dạng, nhiều màu sắc.

Khác với năm ngoái, tôi chọn ra một đĩa nhạc mà mình ưng ý nhất về mọi mặt, để đề tặng danh hiệu đĩa nhạc của năm (Album of the year). Những đĩa không có mặt ở đây, có lẽ vì tôi chỉ thích một vài bài, chứ không nghe hết được trọn vẹn từ đầu đến cuối.

Yêu – Thanh Lam & Tùng Dương
(Classical – 01/2014)

Yêu – đĩa hát chung giữa Thanh Lam và Tùng Dương – dự kiến phát hành cuối tháng 12 năm ngoái, nhưng phải dời lại tận đầu năm sau. Đây không phải là lần đầu tiên họ hát nhạc xưa, cũng không phải là lần đầu hát đôi. Trước đó, Thanh Lam đã cộng tác với rất nhiều ca sĩ, từ Trung Kiên, Trọng Tấn, cho đến Đan Trường, Đàm Vĩnh Hưng. Tùng Dương cũng có đĩa Hát tình ca của riêng mình. Một diva của dòng nhạc nhẹ và một giọng nam hàng đầu hiện tại – hai cá tính có điểm chung nổi tiếng thích phá cách trong âm nhạc – cho thấy những bài song ca mới là hay nhất đĩa. Song, chính phần phối khí của Trần Mạnh Hùng và dàn nhạc giao hưởng dưới sự chỉ đạo của Lê Phi Phi mới là điểm đặc biệt, khiến Yêu xứng đáng nằm trong bộ sưu tập của bất cứ ai.

Nên nghe: Tình nghệ sĩ, Kiếp nào có yêu nhau, Yêu.

Yeu - Thanh Lam & Tung Duong cover nsphuoc

Cửa Thơm Mùi Nắng – Hoàng Quyên

(Pop – 02/2014)

Trường hợp của Hoàng Quyên – khi cộng tác với Lê Minh Sơn trong Cửa thơm mùi nắng, thật sự không khác trường hợp của Uyên Linh – khi cộng tác với Quốc Trung trong Giấc mơ tôi. Cả hai đều là những ca sĩ có chất giọng riêng, nhạc cảm tốt, xử lý tinh tế – nhưng nhà sản xuất lại chưa thể khai thác trọn vẹn khả năng của họ. Đĩa có tám ca khúc, nhưng đến năm đã là cũ. Hoàng Quyên vẫn chỉ đang cho khán giả thấy những gì họ đã thấy: hát tốt nhạc Lê Minh Sơn. Trong khi đó, với một gương mặt trẻ như cô, người nghe chờ đợi sự tươi mới và một hình ảnh rõ ràng cho đĩa đầu tay. Dù có những khoảnh khắc sáng giá, nhưng đáng tiếc, Cửa thơm mùi nắng không khiến ta tiếp tục mong mỏi, tò mò vào những sản phẩm tiếp theo của Hoàng Quyên.

Đọc thêm ở đây.

Nên nghe: Cửa thơm mùi nắng, Mọi lúc mọi nơi, Sóng ngang.

Gặp Tôi Mùa Rất Đông
– Nguyễn Đình Thanh Tâm

(Dance-pop – 02/2014)

Gặp Tôi Mùa Rất Đông là sản phẩm thứ hai mà Nguyễn Đình Thanh Tâm ra mắt trong năm 2013, ban đầu được phát hành trực tuyến trên mạng theo kiểu thử nghiệm, thăm dò thị trường. Cũng vì vậy, nó xoay 180 độ so với đĩa đầu tay Cánh diều lạc phố, từ hình ảnh cho đến âm nhạc. Lần này Thanh Tâm cộng tác với những gương mặt rất mới và trẻ như Đỗ Hiếu, Đoàn Minh Vũ, Mew Amazing, đồng thời khai thác mạnh nhạc điện tử, chủ yếu theo dòng dance, synth-pop. Xuyên suốt từ đầu đến cuối là những âm thanh dồn dập, mạnh mẽ. Ngay cả bài hát “dịu dàng” nhất đĩa (Lang thang) cũng không chủ ý loại bỏ sự ồn ào. Thay vì tiết chế, Thanh Tâm và ê kíp của mình quyết đi đến cùng với những gì đã chọn (bản Gặp Tôi Mùa Rất Đông ở cuối “phá” hoàn toàn bản gốc).

Đọc thêm ở đây.

Nên nghe: Gặp tôi mùa rất đông, Nghe ta hồi sinh, Lang thang.

Địa Đàng II – Nguyên Hà

(Pop – 07/2014)

Tiếp nối đĩa đầu tiên phát hành cách đây hai năm, Địa đàng 2 tập hợp 11 tình khúc mới của nhạc sĩ Quốc Bảo được thể hiện bởi Nguyên Hà – một giọng ca mềm mại, ngọt ngào, phù hợp với dòng nhạc trữ tình, lãng mạn. Nếu so sánh, thì Địa đàng 2 phối khí đơn giản, tiết chế, nghe dễ chịu hơn hẳn đĩa đầu. Cách xử lý của Nguyên Hà đã có sự dày dạn của kinh nghiệm, kéo ngay người nghe vào câu chuyện và không để họ rời bước dù chỉ một giây. Cách viết của Quốc Bảo thì lấp lửng, có bài hoàn toàn phá cách (Ru 7), lại có bài quen thuộc đến mức nhàm chán (Thì ta yêu). Nhưng Địa đàng 2 mang một sắc thái hoàn toàn khác với đĩa đầu, không còn hân hoan reo vui hạnh phúc, mà ám ảnh, day dứt, như một đêm lạnh ngập chìm trong giông bão.

Đọc thêm ở đây.

Nên nghe: Nơi một bến hồng, Giọng tình, Ru 7.

Khởi Hành – Nguyễn Trần Trung Quân

(Electro-pop – 10/2014)

Khởi hành – đĩa đầu tay của Nguyễn Trần Trung Quân – có những điểm mà đĩa đầu tay của các ca sĩ cùng lứa như Nguyễn Đình Thanh Tâm hay Hoàng Quyên chưa có được: một ý tưởng thông minh được thực hiện tới nơi tới chốn. Sử dụng nhạc điện tử làm khung xương, mười ca khúc trong đĩa được sắp xếp theo vòng xoay thời gian của một ngày, theo thứ tự từ sáng đến tối, sau đó lặp lại. Không thể không nhắc đến vai trò rất lớn của Khắc Hưng – nhà sản xuất chính của đĩa, bất ngờ lại là một gương mặt còn rất trẻ. Về các sáng tác, dù Huyền Sambi gần như là ngôi sao của đĩa, nhưng chính Sa Huỳnh mới chứng tỏ rằng mình là một tác giả cần được theo dõi. Khuyết điểm lớn nhất? Nếu Trung Quân hoàn toàn bỏ được cách hát “giống Tùng Dương”, chắc chắc anh sẽ thành công hơn nữa.

Đọc thêm ở đây.

Nên nghe: Cỏ, Nghiêng, Thử thách đêm.

Chẳng Có Tình Ca – Danh Việt

(Pop – 11/2014)

Là một gương mặt hoàn toàn mới, Danh Việt ngoài sự ấm áp thì chất giọng gần như không có gì đặc biệt để có thể trở thành một “pop star”. Giọng của Việt nếu chọn những bản pop ballad đang nổi trên thị trường – như các ca sĩ cùng lứa với anh hay chọn – thì lại càng dễ thất bại. Chiều sâu từ những sáng tác của Quốc Bảo thực sự đã nâng đỡ những khiếm khuyết của Danh Việt lên rất nhiều. Cách biên tập và phối khí cũng cho thấy kinh nghiệm dày dạn của vị nhạc sĩ trong vai trò sản xuất, khi kết nối bảy bài hát được sáng tác cho nhiều mục đích khác nhau. Chẳng có tình ca là một trường hợp điển hình cho thấy vai trò quan trọng của nhà sản xuất. Như một bộ phim đáng nhớ, cần có một đạo diễn giỏi, một kịch bản hay, nhiều hơn là diễn xuất.

Đọc thêm ở đây.

Nên nghe: Tro tàn của tiếng tăm, Mộng kê vàng, Đối thoại nửa đêm.

Ước Sao Ta Chưa Gặp Nhau
– Uyên Linh & Dũng Dalat

Thể loại: Pop
Ngày phát hành: 12/2014

Rúng động! – là cảm giác sau khi nghe Uyên Linh hát tình ca Dũng Dalat. Dường như cả hai đều làm nhạc cho chính mình, thay vì hát hay viết để chiều chuộng bất cứ ai. Dẫu âm nhạc phần lớn hướng đến sự tinh giản – để cho giọng hát của Uyên Linh và tiếng đàn của Dũng Dalat cùng tỏa sáng bên nhau – có thể cũ kỹ, nhàm chán với nhiều người, nhưng bản thân những sáng tác của Dũng Dalat đã đáng để thưởng thức. Nên nhớ là Dũng Dalat đã hoạt động bao nhiêu năm, nhưng đến nay mới có một đĩa tác giả của riêng mình. Người lên ý tưởng là Uyên Linh, như thể đợi chờ duyên phận. Ước Sao Ta Chưa Gặp Nhau là sự kết hợp ngọt ngào giữa một giọng ca giàu xúc cảm và một người viết nhiều trải nghiệm – như cây cho trái chín sau nhiều năm vun trồng.

Đọc thêm ở đây.

Nên nghe: Ước muốn phai tàn, Như cánh hoa đêm, Tình lại đến như vừa bắt đầu.

Dung Nham – Hà Anh Tuấn

Thể loại: Electro-Pop
Ngày phát hành: 12/2014

Hà Anh Tuấn luôn chứng tỏ rằng mình là một người thông minh. Giống như các sản phẩm trước đây của anh, Dung nham sở hữu những ý tưởng rất hay và riêng biệt, nhưng kết quả thực hiện lại chưa trọn vẹn. Công bằng mà nói, Hà Anh Tuấn đã có những khoảnh khắc phá cách rất đáng ghi nhận (Cuộc chiến, Dung nham), nhưng đôi lúc lại quá an toàn (Vô hình, Cứ thế). Điểm thú vị nhất của đĩa là khi anh thể hiện đúng chủ đề của nó: thả mình trôi theo dòng dung nham đang tuôn trào mà không đắn đo điều gì (Nhịp si mê). Trái lại, đĩa vẫn mắc những lỗi không đáng có: Chuyện của mùa đông là một bản pop ballad hay, nhưng nên nằm một đĩa khác. Thật tiếc khi phải nói, Dung nham là đĩa nhạc dở nhất trong sự nghiệp của Hà Anh Tuấn, tính đến thời điểm hiện tại.

Đọc thêm ở đây.

Nên nghe: Cuộc chiến, Nhịp si mê, Xanh mãi (Forever Young).

Review album Dung Nham của Hà Anh Tuấn
/

Dung Nham: đột phá của Hà Anh Tuấn?

Dung Nham tiếp tục cho thấy Hà Anh Tuấn là một người luôn thử thách mình bằng những sáng tạo mới trong âm nhạc.


Nổi danh từ Sao Mai Điểm Hẹn 2006, Hà Anh Tuấn đến với âm nhạc như một “kẻ ngoại đạo”. Anh nhanh chóng trở thành kiểu mẫu điển hình cho các ca sĩ chưa từng trải qua trường lớp đào tạo bài bản, mà hát bằng bản năng và cảm xúc tự nhiên. Nhưng Tuấn hơn người khác bởi óc thẩm mỹ và sự thông minh, luôn chủ động tìm kiếm những nhà sản xuất uy tín cho mỗi sản phẩm của mình. Từ Café sáng (2007) với Võ Thiện Thanh, Saigon Radio (2009) với Hồ Hoài Anh, đến Cocktail (2010) với Dương Khắc Linh, đều là những đĩa nhạc được đầu tư chỉnh chu, lên ý tưởng – nội dung – hình ảnh rõ ràng. Dung Nham* lần này cũng không là ngoại lệ. Nhưng ngoài Cao Trung Hiếu, thì tham gia sản xuất cho Hà Anh Tuấn lần này đều là những tên tuổi hoàn toàn mới lạ.

Tiếp tục mới những ý tưởng mới

Về mặt ý tưởng, Dung nham thực sự là nhan đề phù hợp để miêu tả âm nhạc của Hà Anh Tuấn hiện tại: beat dồn dập, mạnh mẽ, lời hát thẳng thắng, dứt khoát, không nhân nhượng. Nếu loại hai bài hát tặng kèm ở cuối** và bản intro mở màn, thì tổng cộng đĩa có bảy ca khúc mới. Năm trong số đó được viết bởi ba cái tên hoàn toàn mới: Nguyễn Hoàng Anh, Nguyễn Hoàng Gia và Nguyễn Bá Hùng Lân. Hai ca khúc còn lại gồm một bản electro-pop của Trần Trung Đức (Cuộc chiến) và một bản pop ballad của Phạm Toàn Thắng (Cứ thế), thể hiện hai hình ảnh hoàn toàn khác nhau của nam ca sĩ ở độ tuổi 30: có sự náo nhiệt, ồn ã, lẫn tĩnh tại, nhẹ nhàng.

Ca khúc đầu tiên mang tên Cuộc chiến, bắt đầu bằng tiếng synth nghe như các bản dance-pop của Hàn Quốc (!?!). Lời hát chua chát là tâm sự của một người vừa đứng dậy từ những vấp ngã: “Thôi kêu than oán trách cuộc đời, ngậm cười cuộc đời là thế!” Không lạm dụng auto-tune như trào lưu làm nhạc IDM hiện tại, giọng của Hà Anh Tuấn được giữ nguyên giữa những lớp âm thanh chất chồng lên nhau, liên tục bắn phá từ đầu đến cuối. Thay vì bị nhấn chìm, phần vocal lại hòa cùng nhịp beat để đẩy mạnh cao trào. Nếu xem bài hát là một “dòng chảy” của dung nham, thì sức nóng của nó đổ dồn vào phần điệp khúc. Một câu bảy chữ được lặp lại đúng tám lần, thể hiện tinh thần không chịu khuất phục trước bất kỳ sóng gìó: “Hãy vững bước trong cuộc sống này!

Nếu Cuộc chiến là sự giằng xé nội tâm của một người đàn ông, thì Nhịp si mê đơn giản chỉ là lời hát anh dành cho nhân tình của mình: đêm nay, ta hãy quên hết tất cả để đến với nhau. Nội dung gợi nhớ đến Come with me trong Cocktail, nhưng âm nhạc thì xoay 180 độ: thay sự uyển chuyển của R&B bằng sự căng tràn của electro. Lần này, giọng hát của Hà Anh Tuấn lại trở thành trọng tâm của cả bài. Giọng chính được nối liên tiếp không ngừng nghỉ, nhảy từ đoạn này sang đoạn khác, rồi lại nhảy từ tiếng Việt sang tiếng Anh. Giọng hát đệm – cũng của Hà Anh Tuấn – ré lên rất cao ở phía sau. Chưa kể những câu “ố ô” cứ vang lên đầy chủ ý, trở thành điểm rất riêng của bài hát, tất cả tạo nên một không gian thực sự “loạn nhịp”.

Bìa album Dung Nham của Hà Anh Tuấn.
Bìa album Dung Nham của Hà Anh Tuấn.

Ở phần sau, Xanh mãi (Forever Young) nối tiếp những nhịp điệu ngập tràn năng lượng của Dung nham bằng giọng rap rất ngọt của Xuân Lân. Bất ngờ là nội dung bài hát lại có tính chất “phong trào đoàn”: hãy trân trọng tuổi trẻ, bởi “thời gian như vòng xe quay thật mau”. Tuấn hát thoải mái, đơn giản là chính mình. Lân cũng không cố “bắn chữ liên phanh” cho ra kiểu rapper, mà ngắt nhịp rành mạch, rõ ràng. Giọng cả hai – một nam một bắc – hòa vào nhau tạo nên sức hút nhất định cho cả bài. Ca khúc chủ đề – Dung nham (Lava) ­– là bài “tối” nhất đĩa, lặp lại phần nhạc intro như một vòng tuần hoàn, “kết” cũng là “mở”. Nội dung tiếp nối Cuộc chiến nhưng u ám hơn hẳn. Sự kiên định, bất khuất trước đó hoàn toàn bay biến, thay bằng nỗi hoang mang đến lạc lối, đánh mất cả chính bản thân. Phần điệp khúc xoáy chuyển thành electro-rock, khiến đây trở thành bài hát mang đậm tính thử nghiệm nhất từ trước đến giờ của Hà Anh Tuấn.

Đáng tiếc, phần kém hấp dẫn nhất của Dung nham lại là những ca khúc viết về tình yêu. Vô hình là bản R&B được xếp sau Cuộc chiến, cũng như Bóng mưa xếp sau Radio (Saigon Radio), hay Làm sao nói yêu em xếp sau Buổi sáng ở Ciao Café (Café Sáng) – một công thức đã cũ trong các đĩa nhạc của Hà Anh Tuấn – nhưng lại không có gì mới về cả nội dung (tình yêu hậu chia tay trở nên xa lạ như vô hình) lẫn âm nhạc (lấy keyboard làm nền). Thủy tinh khá hơn khi cố gắng thay đổi nửa sau bài hát bằng một chút electro-rock, nhưng lời nhạc không có gì đáng nhớ, kể cả điệp khúc. Riêng Cứ thế lại là ca khúc chán nhất đĩa. Không có gì lạ vì đây vốn là một bài hát được chọn làm nhạc phim truyền hình (hợp tác Hàn Quốc).

Sẽ càng đáng tiếc hơn nếu nhớ rằng, đây là đĩa nhạc đánh dấu sự trở lại của Hà Anh Tuấn sau 4 năm. Dung nham chứa đựng những ý tưởng rất tốt, nhưng kết quả lại chưa trọn vẹn. Ê kíp mới của Hà Anh Tuấn lặp lại những cố tật từ trước đến nay của anh. Tại sao phải tặng kèm một bản Instrumental vào cuối, khi nội dung đĩa đã thể hiện hết? Tại sao phải lồng những bản mid-tempo vào giữa, khi mà âm nhạc đang cuộn trào thế kia? Và có nhất thiết phải cố gắng chèn Chuyện của mùa đông vào không? Để chiều khán giả ư? Nếu tạm quên đi việc hát bằng tiếng Anh, thì Cocktail vẫn là đĩa nhạc có cấu trúc hoàn chỉnh, ngắn gọn và liền mạch nhất trong các đĩa nhạc của Hà Anh Tuấn. Trong khi Dung nham vẫn chỉ là một đĩa pop, tập hợp một vài ca khúc mới với đủ thể loại, chỉ để nhắc mọi người rằng, Hà Anh Tuấn chưa hề biến mất.


*Đĩa phòng thu thứ 5 của Hà Anh Tuấn, thứ 7 nếu tính cả hai đĩa làm chung với Phương Linh.
**Chuyện của mùa đông (Phạm Toàn Thắng) đã được phát hành trực tuyến cuối năm ngoái.

Nên nghe: Cuộc chiến, Nhịp si mê, Xanh mãi (Forever Young)

Ước sao ta chưa gặp nhau của Uyên Linh và Dũng Đà Lạt
/

Uyên Linh & Dũng Dalat: ‘Ước sao ta chưa gặp nhau’

Ước sao ta chưa gặp nhau của Uyên Linh và Dũng Đà lạt là một album giàu cảm xúc, gợi nhớ đến hình ảnh Lê Uyên Phương của ngày xưa.


Khán thính giả yêu thích và theo dõi Uyên Linh dễ thấy rằng cô đang tiến những bước rất chậm trên con đường sự nghiệp của mình. Thậm chí có cảm giác, sau bốn năm Uyên Linh vẫn đang dậm chân tại chỗ. Đỉnh cao của Linh vẫn là ngôi vị quán quân tại cuộc thi Vietnam Idol, nơi cô liên tục thể hiện nhiều dòng nhạc khác nhau, chiếm được tình cảm của số đông khán giả. Đĩa đầu tay Giấc mơ tôi (2012) – hợp tác với Quốc Trung – chưa làm thỏa mãn cơn khát mà mọi người dành cho “thần tượng” của mình khi đó. Vì vậy, những ai mong đợi Uyên Linh sẽ thực sự bức phá trong lần trở lại này, hẳn sẽ phải ít nhiều thất vọng.

Uyên Linh & Dũng Dalat – một
Lê Uyên Phương mới?

Đĩa nhạc thứ hai của Uyên Linh mang một nhan đề rất ngang trái: Ước sao ta chưa gặp nhau, gồm bảy bài hát viết về tình yêu, tất cả đều do nhạc sĩ Dũng Dalat sáng tác. Trước đó, Dũng Dalat được biết đến như một tay guitar trứ danh, còn Uyên Linh nổi tiếng nhờ cuộc thi Vietnam Idol. Bây giờ, cả hai đứng cạnh nhau đơn giản là một đôi nhân tình, trong cuộc sống lẫn trong âm nhạc, như cặp đôi ca-nhạc sĩ Lê Uyên và Phương của những thập niên trước. Sở dĩ đĩa nhạc có tên gọi ngang trái như vậy, là vì cả bảy ca khúc đều được viết khi cuộc tình đã cắt nửa: “Ta rơi vào trong nỗi đau đời nhau…”, “mất nhau khi vừa gặp nhau…”, “vui buồn dấu sau tiếng cười, như mây nào trôi cuối trời, để tiếng yêu lạc giữa đời…” Một cuộc tình, mà đắng cay đến vậy, thì thà như chưa từng gặp nhau trên đường đời.

Hình ảnh Uyên Linh khi phát hành Ước sao ta chưa gặp nhau.
Hình ảnh Uyên Linh khi phát hành Ước sao ta chưa gặp nhau.

Toàn bộ tinh thần của Ước sao ta chưa gặp nhau được gói gọn trong ca khúc chủ đề, cũng là bài hát mở màn. Uyên Linh hát mộc trên nền guitar của Dũng Dalat. Giọng ca của nàng nhưng lời ca thì là của chàng (xưng “tôi”, gọi “em”). Bài hát được chia làm hai, ứng với hai giai đoạn đối lập của cuộc tình: bắt đầu (“Tình đến như tôi còn mơ, dấu yêu ngỡ từ bao giờ”) và kết thúc (“Mà em vội đi, tình tôi còn đây. U mê, lạc lối, mong manh”). Bản phối vì thế cũng luân phiên thay đổi, thi thoảng đưa vĩ cầm vào để nhấn mạnh nỗi đau. Cả cách viết lẫn cách hát đều hòa vào nhau một cách đơn giản, không tô vẽ – hệt như câu: “ngỡ ta bước ra từ nhau”. Thế mà lời hát cuối cùng lại phá tan tất cả, đặt dấu chấm hết cho một cuộc tình.

Ca khúc thứ hai, Ước muốn phai tàn, thậm chí còn đơn giản hơn ca khúc trước, cả về nhịp điệu lẫn ca từ. Câu chữ như được lấy ra từ một trang nhật ký mà Dũng Dalat viết cho chính mình. Anh thật thà thú nhận, bản thân vốn là một người đàn ông rụt rè, nhút nhát, lại có phần phân vân trước tình yêu: muốn nói “yêu” nhưng lại nói “ghét”. Cũng vì tính cách ấy, nên đến phút cuối vẫn giữ mãi tiếng yêu trong lòng, rồi tìm về với nỗi cô đơn của riêng mình. Chắc là Uyên Linh cũng cảm nhận được điều đó, nên giọng cô có chút run rẩy và rưng rưng. Đôi chỗ cô không hát, mà như đang trút ra từng hơi thở. Cả bài hát dài hơn bốn phút nhưng cô chỉ lên cao và chấn mạnh vào một chữ “chết” ở cuối – cũng là khi ước muốn thực sự phai tàn.

Cảm xúc đến tự sự mộc mạc

Sự đơn giản và mộc mạc vẫn tiếp tục được dàn trải trong phần còn lại của đĩa nhạc. Ngày mưa được phối acoustic trên nền guitar chậm rãi, kéo người nghe về với miền dĩ vãng xa xôi của cuộc tình, có niềm vui lẫn nỗi buồn, “quen nhau” rồi lại “xa nhau”. Như cánh hoa đêm thì lại réo rắt, nảy theo từng nhịp 4/4. Uyên Linh hát mềm mại, uyển chuyển, nhưng vẫn ẩn chứa nỗi buồn, như hình ảnh giọt nước mắt “gấp” vào thuyền giấy, thả trôi giữa dòng đời. Trái lại, Trông tình được biến tấu funky nghe nặng nề so với tổng thể đĩa nhạc. Cách hát của Uyên Linh chưa thực sự thoải mái, còn tiếng guitar của Dũng Dalat gần như bị chìm giữa bản phối. Đây cũng là ca khúc duy nhất được viết với ngôi trần thuật là nữ (xưng “tôi”, gọi “anh”). Bài này nếu để vào phần bonus (tặng kèm) thì sẽ phù hợp hơn.

Bìa album Ước sao ta chưa gặp nhau của Uyên Linh và Dũng Đà Lạt.
Bìa album Ước sao ta chưa gặp nhau của Uyên Linh và Dũng Đà Lạt.

Hai ca khúc còn lại kết thúc đĩa nhạc bằng một chút an lành, vì thế nghe cũng dễ chịu hơn phần đầu. Tình lại đến như vừa bắt đầu là ca khúc được phối nhiều màu sắc nhất đĩa, pha trộn dàn dây và điện tử trên nền piano giữ nhịp. Bài hát khép lại nỗi đau bằng hình ảnh “nắng lên màu”* – sau cơn giông bão là bầu trời mênh mông, thoáng đãng (đoạn điệp khúc ở phần sau nghe vang vọng hơn phần đầu). Ca khúc cuối cùng, Nơi cuối chân trời, bắt đầu bằng điệp từ “ru em”, gợi nhớ đến những khúc ru của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Tiếng guitar nhẹ nhàng – thong thả, lời ca dịu dàng – êm ái, nhưng vẫn là viết về một cuộc tình không trọn.

Nhìn chung, Ước sao ta chưa gặp nhau là một đĩa nhạc rất riêng tư của cả ca sĩ Uyên Linh lẫn nhạc sĩ Dũng Dalat. Ngoài tài đánh đàn, Dũng Dalat chứng tỏ mình còn có khả năng viết ra những bản tình ca giàu cảm xúc. May mắn của anh là đã có Linh, một người kể chuyện nâng niu và chăm chút. Về phần Uyên Linh, cô đã từ bỏ hết mọi danh hiệu – Uyên Linh Idol, Uyên Linh diva – mà mọi người trao tặng cho mình, để trở về đơn giản chỉ là Uyên Linh – nàng thơ của Dũng Dalat. Một quyết định tưởng chừng đơn giản, nhưng không phải ai cũng có thể làm được.


*Cũng có thể là “nắng lên, mau dậy thôi”. Vì đĩa không in lời nhạc kèm theo nên tôi chỉ có thể nghe bằng phán đoán của mình.

Chẳng Có Tình Ca: màn chào sân của Danh Việt
/

Chẳng Có Tình Ca: màn chào sân của Danh Việt

Chẳng Có Tình Ca là một dự án hoàn toàn bất ngờ do nhạc sĩ Quốc Bảo sáng tác sản xuất với một giọng ca mới toanh là Danh Việt.


Bao lâu rồi mới có một giọng nam hát nhạc Quốc Bảo mà mạnh dạn ra hẳn một album? Tám năm, nếu tính từ Yêu trong ánh sáng (2006) của Đức Tuấn – một album nhạc pop vừa vặn với những gì Tuấn có khi đó, và đặc biệt, một vài bài đã trở thành hit.

Trước và sau cột mốc ấy, cũng có một số giọng nam hát nhạc Quốc Bảo được công chúng yêu thích. Là Bằng Kiều, Quang Dũng thời Còn ta với nồng nàn (1999 – 2001), là Lê Hiếu thời Tim anh trôi về em, Như nằm mê mà thôi (2003-2006), rải rác sau đó thì có Hòa T. Trần thời My Guitar My Friends (2008), hay Tùng Dương, Viết Thanh thời Q+B (2009). Đó là chưa kể rất nhiều gương mặt khác, như Trọng Bắc, Lương Viết Quang, Hồ Trung Dũng,… đã từng thử sức với tình khúc Quốc Bảo nhưng ít được nhắc đến hơn.

Hành trình của Chẳng Có Tình Ca

Như một lẽ thường tình, nhạc Quốc Bảo từ lâu đã gắn liền với các giọng nữ. Dẫu rất nhiều trong số đó được viết với giọng trần thuật là nam, nhưng nữ hát vẫn hay như thường, thậm chí dễ cảm hơn. Kể từ thập niên 2010, đóng đinh với nhạc Quốc Bảo là hai gương mặt nữ hoàn toàn mới: một Hoàng Anh thô-lạnh của Nửa (2011), Vuông Tròn (2012) và một Nguyên Hà mềm-ngọt của Địa Đàng (2012), Địa Đàng 2 (2014). Cũng trong khoảng thời gian này, Quốc Bảo đã không còn co hẹp trong khuôn khổ một nhạc sĩ sáng tác thông thường nữa, mà hướng mình vào với một vị trí khó khăn hơn: một nhà sản xuất âm nhạc – đúng nghĩa là bao gồm rất nhiều công đoạn, từ viết nhạc, soạn lời, hòa âm, phối khí,… cho đến chỉ đạo việc thu âm, hướng dẫn ca sĩ thể hiện, chơi nhạc cụ,… (một số ca sĩ nếu đủ khả năng cũng có thể tự sản xuất nhạc cho chính mình).

Nói thế, không có nghĩa là trước đó Quốc Bảo chưa từng sản xuất âm nhạc, nhưng phải đến Hoàng Anh, Nguyên Hà – những nhân tố mới và lạ với thị trường – thì vị trí đó mới thực sự đậm nét. Trái lại, ta đã tìm ra được hai lý do để chờ đợi Chẳng có tình ca của Danh Việt – gương mặt thứ ba làm việc cùng nhà sản xuất Quốc Bảo, cũng là nam ca sĩ hiếm hoi làm hẳn một đĩa nhạc Quốc Bảo. Nhưng Danh Việt là ai? Không có nhiều thông tin về chàng trai này, ngoại trừ việc sinh năm 1991, ở Hà Nội. Một ẩn số hệt như Hoàng Anh khi mới xuất hiện. Như vậy, thì ta nên nghe Chẳng có tình ca, với tâm trạng của một người xem phim mà không xem trước quảng cáo, đọc sách mà không biết trước tóm tắt, cũng như người khách lữ hành, bước chân lên ga tàu mà không biết rõ đích điểm.

Bìa album Chẳng Có Tình Ca của Danh Việt
Bìa album Chẳng Có Tình Ca của Danh Việt

Bảy ca khúc mới đều do Quốc Bảo sáng tác, được xếp theo một cấu trúc nhất định – độc thoại, đối thoại, rồi lại độc thoại – nhưng nghe thì không hề liền mạch mà gập ghềnh, trúc trắc. Đan giữa niềm vui là nỗi buồn, giữa cô đơn là bình an, giữa đắng chát là vô tâm. Cũng như vậy, giữa sáu bài đơn có một bài đôi, âm nhạc không mới nhưng biến chuyển liên tục, khi réo rắt lúc trầm buồn. Chỉ có giọng hát chính của nam ca sĩ là giữ nguyên một sắc thái từ đầu đến cuối: lãnh đạm, hờ hững, lạnh nhạt, bất cần. Trái với cách hát, bản chất giọng của Danh Việt lại ấm áp, không phải kiểu nam tính của một người đàn ông trưởng thành, mà vẫn còn đó độ non của một chàng thanh niên mới vào đời. Điều ngạc nhiên là Quốc Bảo lại “sắm” cho giọng ca ấy những chiếc áo quá khổ. Các ca khúc trong đĩa mang nhiều tự sự, nặng về trải nghiệm, vẫn có tình yêu nhưng không màu hồng, là chia phôi thay vì hạnh phúc, nên dẫn đến nhan đề: Chẳng có tình ca.

Những bản nhạc tình không “tình”

Ở ca khúc đầu tiên, Danh Việt hát: “Tiếng tăm như một giấc phù vân, thoắt đã tan…” Ca khúc được đặt với tên gọi khó thể thẳng thắng hơn: Tro tàn của tiếng tăm, phối đơn giản với violin mở đầu – guitar kết thúc – piano làm nền, dồn trống vào giữa để đẩy mạnh điệp khúc. Khi đó, nam ca sĩ trở thành một người đã trải qua nhiều thăng trầm trên đường đời – hình ảnh hoàn toàn trái ngược với độ tuổi hiện tại của chính mình. Anh đứng nép mình trong bóng tối của nỗi cô đơn, nhìn lại về phía đỉnh cao danh vọng, nơi mà “tiếng tăm” giờ đây chỉ như ngọn lửa, mới vừa bùng cháy đã chợt chợp tắt. Tâm trạng hòai cổ được tiếp nối bằng Mộng kê vàng – cơn mơ về miền dĩ vãng chất chứa nhiều nỗi đau: “có chia ly để ta tiếc nhau, có vơi ly để tim khô máu.” Bản phối còn tối giản hơn cả bài trước với guitar chủ đạo, violin kéo từng tiếng chậm chạp như nhịp đập con tim, có thêm giọng nữ bè làm tăng cảm giác mơ hồ. Để rồi sau rất nhiều điều “có”, là sự thật quá bẽ bàng khi vừa tỉnh giấc mộng: “chỉ còn thấy cô đơn mà thôi.”

Ca khúc thứ ba mang tên An “bẻ gãy” chuỗi cô đơn ấy với một bản phối vui. Cách hát của Danh Việt vẫn nhẩn nha, từ tốn nhưng đã thoải mái hơn trước. Đôi chỗ còn vụng và vấp nhưng vẫn được cho qua, đúng kiểu “ignorance is bliss” (không biết là hạnh phúc). Không gian sau đó lắng đọng với Đối thoại nửa đêm (song ca), rồi một lần nữa bị “bẻ gãy” bằng Em mở ra tình mới (bản phối vui), cuối cùng trở lại với cô đơn bằng hai bài độc thoại nhiều tự sự ở cuối. Cách sắp xếp này sẽ khiến tâm trạng của người nghe bị hụt hẫng, không liền mạch mà lên xuống thất thường như điện tâm đồ. Ở điểm rơi thấp nhất của dòng chạy có sự xuất hiện của một giọng ca nữ. Cuộc “đối thoại” giữa Dạ Ngân với Danh Việt là màn đối đáp đã rõ kết cục ngay từ đầu. Một người xem quá khứ như gáo nước lạnh tạt đi là hết, một người vẫn chưa dứt được cơn đau tình ái nhức nhối từng ngày. Giọng Dạ Ngân sắc – mà phải hát tình cảm, giọng Danh Việt ấm – mà phải hát vô tâm. Tâm trạng khác nhau, nhìn bầu trời cũng khác nhau, kẻ buồn người vui, bảo quên nhưng chắc gì đã quên được.

Thiên đường trắng - Một dự án nhỏ Quốc Bảo thực hiện với Danh Việt.
Thiên đường trắng – Một dự án nhỏ Quốc Bảo thực hiện với Danh Việt.

Càng đi về sau, độ khó của bài hát càng lớn, độ lạnh của giọng hát càng tăng. Ở Vô tâm, Danh Việt ngồi một mình trong phòng ngắm hoa, đốt đèn nghe thơ. Từ cảnh vật cho đến lòng người đều nhuốm một sắc màu lạnh lẽo, thiếu sức sống. Nếu như Nửa khép lại nỗi đau bằng niềm tin và hy vọng, Vuông Tròn kết thúc với sự trở lại của nhân tình – một giấc mơ yêu, Địa Đàng không hề thiếu những phút giây hạnh phúc, thi đến Chẳng có tình ca, người nghe chỉ thấy một màu tăm tối. Đỉnh điểm của sự cô đơn nội tâm là ở bài cuối cùng, B’s Blues, cũng là bài dài nhất. Danh Việt xử lý bài hát bằng một giọng điệu thờ ơ hơn hẳn các bài trước. Thay vì hòa mình vào bản phối, đôi lúc ta thấy anh hoàn toàn lạc lõng giữa những giai điệu, với một thái độ bất cần. Năm phút rưỡi của B’s Blues là khoảng thời gian khó vượt qua nhất trong đĩa. Bởi nó tập hợp đủ vị của nỗi đau: mặn đắng, chua chát, buồn bã, lạnh lẽo, thậm chí vô vị.

Chẳng có tình ca của Danh Việt, chắc chắn sẽ rơi vào trường hợp tương tự Nửa, hay Vuông Tròn của Hoàng Anh: kén người nghe. Danh Việt hay Hoàng Anh, cũng đi ngược với nhiều ca sĩ trên thị trường hiện tại: họ không tìm khán giả, mà buộc khán giả phải tìm họ. Những album như vậy thì không dễ chiếm được cảm tình ngay từ lần nghe đầu tiên, nhưng một khi đã thử nới lòng, thì khó dứt ra được.

(Bản gốc ngày 17/11/2014 – Cập nhật ngày 29/7/2021)

Review album Khởi Hành của Nguyễn Trần Trung Quân
/

‘Khởi Hành’ với Nguyễn Trần Trung Quân

Cũng là electronica, nhưng Khởi Hành của Nguyễn Trần Trung Quân không chất chứa hoài niệm như Đối Thoại 06 (Trần Thu Hà, 2006), không nặng triết lý và trải đời như Vòng Tròn (Hồng Nhung, 2011), càng không sôi nổi, ồn ã như Gặp Tôi Ngày Rất Đông (Nguyễn Đình Thanh Tâm, 2014). Chất “điện tử” trong đĩa thiên nhiều về ambient và dòng IDM (Intelligent dance music) – hoàn toàn khác với lựa chọn của Nguyễn Đình Thanh Tâm là EDM (Electronic dance music). Một nỗ lực đáng ghi nhận trong việc khai thác dòng nhạc vẫn còn chưa phổ biến nhiều tại Việt Nam, đồng thời cố gắng chọn cho mình một con đường riêng biệt.

Nguyễn Trần Trung Quân: ‘Khởi Hành’ với nhạc điện tử

Ý tưởng của những người thực hiện Khởi Hành là muốn tạo thành một concept album kể về một ngày bình thường của Nguyễn Trần Trung Quân*. Thực hiện phối khi cho Khởi Hành là Khắc Hưng, một cái tên khá lạ nếu không được giới thiệu như là em trai và người thực hiện rất nhiều sản phẩm của Khắc Việt. Mười ca khúc trong đĩa – bao gồm một đoản khúc ở đầu và một ở cuối – được sắp xếp theo trật tự có chủ định, đúng theo chiều quay của kim đồng hồ, có thể tạm chia thành bốn “tổ khúc”: sáng – trưa – chiều – tối. Tuân thủ theo đúng cấu trúc này, các bản phối trong đĩa cũng liên tục “chuyển mình” cho phù hợp với đúng thời điểm của bài hát.

Chẳng hạn như hai ca khúc đầu tiên, đều thể hiện thời điểm bắt đầu ngày mới nhưng lại mang sắc thái khác biệt. Đoản khúc mở đầu, Thức giấc, dài chưa đầy một phút, chậm rãi và có phần uể oải, tạo cảm giác của một người còn ngái ngủ, chưa chịu bước chân ra khỏi giường mà vẫn muốn đắm chìm trong những giấc mơ. Đến Hừng Sáng thì Nguyễn Trần Trung Quân mới thực sự kéo người nghe vào “buổi sáng” của mình, một buổi sáng dịu dàng mà vẫn tràn đầy hơi thở của thành phố – tiếng synth mở màn chạy ngoằn ngoèo như những chiếc xe đua nhau tiến vào đô thị.

Khoi Hanh - Nguyen Tran Trung Quan nsphuoc 1

Trong khi đó, hai ca khúc “buổi trưa” lại đánh đổi sự trong trẻo, tươi mới của “buổi sáng” bằng sự hoang mang, lạc lõng. Âm nhạc tiết giảm điện tử, lồng vào sáo và khèn – những lựa chọn đã đi vào lối mòn đối với các nghệ sĩ Việt Nam khi muốn kết hợp nhạc điện tử quốc tế với nhạc cụ dân tộc. Cụ thể, bản phối của Ảo Ảnh Trưa vô tình (hay cố ý) lại có phần giống với Giấc Mơ Trưa của Khánh Linh – bản thu trong đĩa Giáng Son (Giáng Son, 2007) – khi cả hai đều sử dụng sáo và tiếng bè của dàn đồng ca.

Song, tiếng sáo trong Ảo Ảnh Trưa không có ý định hòa nhịp vào với những lớp âm thanh điện tử, mà luôn đứng tách biệt, thi thoảng vang vọng. Cũng như người hát, luôn thấy mình cô độc giữa đám đông: “Ta đi tìm ai, ai đi tìm ta giữa những khuôn mặt xa lạ?” Ca khúc tiếp theo, Hồ Nước, có nội dung tương tự Ảo Ảnh Trưa khi lặp lại câu hỏi: “Tìm đâu nước ngọt?… Tìm đâu hồ nước?” Nhưng Khắc Hưng lại đưa người nghe lên vùng non cao bằng tiếng khèn Tây Bắc, sau đó lại dồn trọng tâm vào phần điệp khúc như thác ghềnh dữ dội.

Trái ngược với “buổi trưa”, “buổi chiều” của Trung Quân nghe bình yên, dễ chịu hơn hẳn, chắc chắn là phần hay nhất trong Khởi Hành. Nỗi buồn trong Tiếng Mưa Dai Dẳng không âm ỉ, vang vọng như Tiếng Mưa Để Lại của Hồng Nhung (Khu Vườn Yên Tĩnh, 2004). Thay vì vậy, cách hát của Trung Quân nhẹ tênh như mây, đôi lúc lại tinh nghich, phiêu theo nền dubstep của Khắc Hưng, thả mình cuốn trôi theo dòng mưa “điện tử” để rồi bùng nổ ở cuối.

Không gian “chiều” tiếp nối bằng Cỏ và chập choạng “tối” bằng Nghiêng – những sáng tác độc đáo của Huyền Sambi. Cả hai ca khúc này đều có cách viết lời lẫn nhịp điệu lại trúc trắc, bất cần. Bản phối của Khắc Hưng thực sự càng tăng thêm màu sắc cho bài hát bằng cách đẩy mạnh độ dồn dập và sử dụng auto-tune để biến hóa chất giọng của người hát. Lời nhạc cũng tếu táo, nhưng không phải kiểu đàn ông viết: “Chỉ mong ta hóa thân cỏ dại” (Cỏ), “Thôi em về đi đợi kiếp sau” (Nghiêng).

Khoi Hanh - Nguyen Tran Trung Quan nsphuoc 2

Về giọng hát, Trung Quân sở hữu một chất giọng đẹp, nhưng lại mềm mại và nữ tính quá. Giọng của Quân không thuộc kiểu nhẹ nhàng bề nổi như Nguyệt Ánh mà thực sự có chiều sâu, dù không nhiều độ gai góc bằng Nguyễn Đình Thanh Tâm. Có điều cả Quân lẫn Tâm đều có cách xử lý bài hát chịu nhiều ảnh hưởng từ đàn anh là Tùng Dương. Một sự so sánh không cần thiết bởi giọng Quân vốn không giống Dương. Tuy nhiên, đôi chỗ Quân gằn giọng, nhấn nhá lại tạo cảm giác đó, đặc biệt là những đoạn trầm (Nghiêng, Lửa). Với một chất giọng mềm như vậy, nếu Quân luyến nhiều quá sẽ thành điệu, hơi phản cảm.

Tuy nhiên, người nghe nhạc điện tử có thể thấy rằng âm nhạc trong Khởi Hành thực sự vẫn không quá mới mẻ. Chỉ cần lấy dẫn chứng từ phần còn lại của “buổi tối”: Lửa gợi nhớ đến Army Of Me của Bjork (Post, 1995), trong khi Thử Thách Đêm lặp lại chất liệu của Đối Thoại 06. Một chút chỗ này, một chút chỗ kia, nhưng người làm nhạc, cụ thể là Khắc Hưng, biết cách điều phối hợp lý nên vẫn tạo nên được sự thú vị. Cả mười ca khúc đều có màu sắc riêng, vừa vặn với chất giọng của Trung Quân nên nghe thoải mái và thư giãn tốt.

Điều bất ngờ nhất của Khởi Hành không phải là nhạc điện tử, mà vì đây là đĩa nhạc đầu tay của một ca sĩ còn rất trẻ (Nguyễn Trần Trung Quân sinh năm 1993). Nhưng Khởi Hành không phải là chuyền tàu xuất phát của một người đi từ con số không (Trung Quân từng tham gia Sao Mai, Sao Mai Điểm Hẹn 2010, và có một số giải thưởng âm nhạc). Đúng hơn, Khởi Hành là những tâm sự của một chàng trai hai mươi, bỏ qua những muộn phiền ngày cũ để bắt đầu một ngày mới, như lời của ca khúc Hừng Sáng: “Mở tung cửa sổ đón gió về, gạt hết ưu phiền lòng ta.” Nết xét ở mức độ đĩa đầu tay, thì Khởi Hành là một đĩa nhạc không tồi, thậm chí tốt hơn so với mặt bằng chung. Nhưng Trung Quân cũng rơi vào trường hợp tương tự như Hoàng Quyên với Cửa Thơm Mùi Nắng, khi cả hai đều đã bỏ lỡ cơ hội để làm một điều gì đó xuất sắc.

* Cấu trúc đi theo tuyến tính thời gian vốn cũng không mới, nhất là trong điện ảnh (gần đây có Two Days, One Night của anh em nhà Dardenne). Riêng với nhạc Việt thì Mỹ Tâm với chủ đề thời gian, đặc biệt là bìa sau của đĩa Trở lại (2008) với hình chiếc đồng hồ đã từng thể hiện phần nào ý tưởng này. Đáng tiếc là cô đã không thực hiện.

Khoi Hanh - Nguyen Tran Trung Quan nsphuoc album cover
1 2 3 4 5 6 9
error: Alert: Nội dung đã được bảo vệ !!