playlist

10 bài hát làm nên sự nghiệp Alicia Keys
10 bài hát làm nên sự nghiệp Alicia Keys
/

PLAYLIST: 10 bài hát làm nên sự nghiệp Alicia Keys

Hai mươi năm làm nghề với 7 album và 15 giải Grammy, Alicia Keys là một trong những nữ singer-songwriter (ca-nhạc sĩ) nổi tiếng và thành công nhất thập niên 2000s.


*Bài viết nằm trong chuyên mục PLAYLIST sẽ được tiếp tục cập nhật.


Năm 2021 là vừa đúng 2 thập kỷ Alicia Keys xuất hiện và trở thành một cái tên quan trọng của dòng R&B đương đại.

Kể từ khi phát hành album đầu tay Songs In A Minor, Alicia Keys đã viết nên hàng trăm ca khúc cho chính mình lẫn các ca sĩ khác.

Rất nhiều trong số đó trở thành hit.

Dưới đây là danh sách 10 ca khúc nổi bật tổng kết sự nghiệp 20 năm của Alicia Keys.

Alicia Keys thời mới vào nghề với Songs in A Minor
Alicia Keys thời mới vào nghề với Songs in A Minor.

1. Fallin’ (2001)

Album: Songs In A Minor
Thể loại: Neo-soul, R&B
Phát hành: 4/2001


Tháng 4/2001, Fallin’ được phát hành và cả thế giới “rơi” vào âm nhạc của Alicia Keys.

Khi ấy nữ ca sĩ vừa tròn 20 tuổi, nhưng đã đủ khả năng tự sáng tác và sản xuất ca khúc. Bản phối của Fallin’ đơn giản, chỉ kết hợp pinao và bass, cùng phần bè theo kiểu gospel (thánh ca). Lời hát thể hiện tâm trạng rối bời của một cô gái vừa đi qua tuổi mới lớn: “Thi thoảng em yêu anh, thi thoảng anh khiến em buồn”.

Hai thế cực cảm xúc ấy được Alicia Keys luồn lái một cách khéo léo qua giọng hát đầy nội lực. Ngay từ nốt đầu tiên, cô đã khiến người nghe phải sởn da gà.

Nữ ca sĩ xử lý Fallin như thể đang rít một điếu thuốc. Cô dùng hết hơi để nhấn ở chữ “in” (rồi), sau đó nhả chữ “out” (ra) một cách nhẹ nhàng. Đâu đó trong bài vẫn có thể nhận ra sự thô ráp từ giọng hát, nhưng đó cũng là điểm khiến cảm xúc được bảo quản trọn vẹn.

Tại Grammy 2002, Fallin’ thắng đến 3 hạng mục gồm: “Ca khúc của năm”, “Ca khúc R&B xuất sắc”, “Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc”. Bài hát cũng được đề cử “Thu âm của năm”, nhưng thua Walk On (U2).

Là đĩa đơn mở màn cho album đầu tay Songs In A Minor, Fallin’ được xem là ca khúc “đóng đinh” với tên tuổi Alicia Keys. Các ca sĩ khác khi cover (hát lại) Fallin’ đều không thể vượt qua cái bóng quá lớn của chủ sở hữu.

Họ chỉ bắt chước cô.

2. You Don’t Know My Name (2003)

Album: The Diary of Alicia Keys
Thể loại: Soul, R&B
Phát hành: 11/2003


Hai năm sau Fallin’, Alicia Keys viết tiếp cuốn nhật ký tuổi mới lớn với album thứ hai The Diary of Alicia Keys. Trong đó, You Don’t Know My Name là một trang đáng nhớ, một trong những ca khúc thú vị nhất trong sự nghiệp Alicia Keys.

Lời hát tiếp tục quanh quẩn ở chuyện tình yêu. Keys kể rằng cô tình cờ gặp một chàng trai và tiếng sét ái tình làm tim cô bùng cháy. Nàng bắt đầu mơ mộng hão huyền về chàng, từ cái hẹn đầu tiên đến nụ hôn đầu đời.

Nhưng mà trời ơi, còn gì buồn hơn khi “chàng chẳng biết tên em”.

Bản phối do Kanye West đảm nhận, được xây dựng dựa trên sample (nhạc mẫu) của Let Me Prove My Love to You. Đây là một ca khúc từng được thể hiện bởi The Main Ingredient – một nhóm R&B thành lập ở New York thập niên 1970.

Thành công của West là đã biến phần nhạc xưa cũ thành một bản R&B hợp thời, giúp You Don’t Know My Name càn quét bảng xếp hạng Billboard trong 8 tuần liền, thắng kèn vàng Grammy 2005 ở hạng mục “Ca khúc R&B xuất sắc”.

Đáng nhớ nhất là phần piano thi thoảng trượt dài ở nền, vẽ ra một không gian mơ mộng mang màu sắc Disney. Trước khi bài hát đi vào điệp khúc lần cuối, Alicia Keys ngừng hát và chuyển sang nói. Nữ ca sĩ tiếp tục mộng mị về tình yêu:

“Oh hey/ Anh khỏe không / Tôi thấy mình khá ngớ ngẩn khi làm việc này / Nhưng tôi là nhân viên phục vụ của quán cà phê số 39 và Lennox / Người có bím tóc ấy…”

Ít ai biết góp giọng ở phần bè là John Legend – khi ấy còn chưa nổi tiếng.

Alicia Keys những năm 2004 với album thứ hai.
Alicia Keys những năm 2004 với album thứ hai.

3. If I Ain’t Got You (2003)

Album: The Diary of Alicia Keys
Thể loại: R&B, Soul, Jazz
Phát hành: 6/2004


If I Ain’t Got You là một sáng tác được nhào nặn từ những nỗi buồn. Sự kiện khủng bố 9/11 và cái chết trẻ của Aaliyah (22 tuổi) thôi thúc Alicia Keys thực hiện bài hát.

Mở đầu ca khúc, cô viết: “Vài người sống vì tài sản / Vài người sống vì danh vọng / Vài người sống cho quyền lực / Vài người sống chỉ để chơi trò chơi”.

Sau khi liệt kê những thú vui vật chất, Keys tuyên bố rằng mình không cần bất cứ điều gì trên đời, ngoại trừ tình yêu.

Suýt nữa sáng tác này đã nằm trong album Stripped (2002) của Christina Aguilera nếu quản lý của Keys không ngăn cản kịp thời. Lý do là vì người sáng tác – Alicia Keys – cho rằng bài hát đơn giản, cô có thể viết ra “hàng trăm ca khúc” như vậy.

Vào tay Aguilera, hẳn cô sẽ đẩy kịch tính ngay từ nốt đầu tiên. Cách xử lý của Keys thì hoàn toàn khác. Cô nhẹ nhàng ở đầu và dồn hơi cho điệp khúc. Song, độ khàn trong giọng hát của Keys khiến những nốt cao của bài nghe khá chới với.

Phần âm nhạc tiếp tục do Alicia Keys tự đảm nhận, cho thấy sự trưởng thành trong vai trò sản xuất. Cô khéo léo kết hợp nhiều nhạc cụ, từ piano, bass, trống, thi thoảng chêm kèn (horn), nhưng vẫn đưa bài đi đúng hướng hướng neo-soul.

Bài hát thắng giải Grammy 2005 ở hạng mục “Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc”, thua ca khúc Daughters (John Mayer) ở hạng mục “Ca khúc của năm”.

Quả thực, những màn trình diễn sau này của If I Ain’t Got You hay hơn bản thu âm gốc rất nhiều.

4. Superwoman (2007)

Album: As I Am
Thể loại: Soul, R&B
Phát hành: 7/2008


Trước khi “nữ quyền” trở thành cụm từ được sử dụng tràn lan trên mặt báo, Alicia Keys đã tạo ra As I Am. Album phòng thu thứ 3 của Keys là hàng loạt tuyên ngôn dành riêng cho phái nữ, trong đó có Superwoman.

Bài hát đánh dấu sự trưởng thành trong ngòi bút sáng tác của Alicia Keys khi mở rộng ca từ ra khỏi “những câu chuyện tình tuổi teen”. Cô tuyên bố: “Bài này dành riêng cho những người mẹ / đang chiến đấu vì tháng ngày tươi đẹp sắp tới/ Cho tất cả những người phụ nữ của tôi / đang cố gắng về nhà trước lúc mặt trời mọc”.

Lập tức, Keys kéo người nghe về năm 1973 khi tổng thống Franklin D. Roosevelt quyết định giới hạn “8 giờ” làm việc mỗi ngày. Trước đó, người lao động sẽ làm việc cho đến khi chủ cho nghỉ, đến sáng hôm sau lại tiếp tục như một vòng tuần hoàn.   

Song, Superwoman nào phải bài ca lao động. Sáng tác ra đời nhằm mục đích xoa dịu nỗi buồn và phải đối những bất công với các chị em. Trên nền nhạc piano giản đơn, cô kêu gọi hội phụ nữ hãy đoàn kết lại, vượt qua mọi khó khăn vì hai chữ “có thể”.

Để đậm nét, Alicia Keys dùng chính bản thân làm dẫn chứng: đã có lúc tôi vụn vỡ, nhưng không ai biết bên trong tôi là “siêu nhân”.

“Chúng ta có thể bay”, cô hát.

Độ phổ quát đã giúp Superwoman trở thành ca khúc chủ đề cho mùa WNBA (Hiệp hội Bóng rổ Quốc gia Nữ) năm 2008 của Mỹ. Keys cũng dành được một giải Grammy cho hạng mục “Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc”.

Alicia Keys trong phòng thu thời As I Am.
Alicia Keys trong phòng thu thời As I Am.

5. No One (2007)

Album: As I Am
Thể loại: R&B
Phát hành: 9/2008


Xét ở nhiều khía cạnh, No One không phải là một bài hát đột phá.

So với Superwoman, nhịp điệu bài hát có lôi cuốn hơn, nhưng phần sản xuất không quá mới lạ. Cách phối piano làm nền và tiếng bass đập thình thịch vốn xuất hiện trong rất nhiều ca khúc nhạc pop khác.

Lời bài hát cũng không có gì đặc biệt, chỉ phát triển rõ hơn nội dung của If I Ain’t Got You. Nữ ca sĩ khẳng định tình yêu của mình là duy nhất: “Không ai / Không ai / Không ai có thể dừng được cảm xúc trong em”.

Song, chính sự đơn giản ngay từ điệp khúc giúp No One trở nên gần gũi với người nghe. Bài hát đứng đầu Billboard Hot 100 trong 5 tuần liên tiếp, chứng tỏ sự yêu mến của khán giả.

Trong Superwoman, Alicia Keys phô diễn phím đàn, đến No One cô tiếp tục trưng trổ giọng hát. Nữ ca sĩ khéo léo biến sự thô ráp từ giọng hát thành điểm đặc trưng của bài. Khi bài hát kết thúc, câu hát “No One No One” cứ lặp mãi trong đầu người nghe.

Trả lời phỏng vấn Billboard, Alicia Keys cho biết đây là ca khúc cô hoàn toàn tự viết. “Rất nhiều bài không như vậy. Đây là một trong những bài hát cuối cùng tôi (tự) viết”, cô nói.

Tại Grammy 2008, No One thắng 2 hạng mục “Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc” và “Ca khúc R&B xuất sắc”. Bài háthấp dẫn đến độ huyền thoại âm nhạc Aretha Franklin cũng quyết tâm phải cover (hát lại). Bà thu âm phiên bản mới cho ca khúc và đưa vào album Aretha Franklin Sings the Great Diva Classics phát hành năm 2014.

6. Try Sleeping with a Broken Heart (2009)

Album: The Element of Freedom
Thể loại: Synth-pop, R&B
Phát hành: 11/2009


Try Sleeping with a Broken Heart là đĩa đơn nằm trong The Element of Freedom – album thứ tư của Alicia Keys.

Khác các album trước, lần này Keys bắt đầu thử nghiệm những âm thanh mới so với chính mình. Điều rõ nhất là cô đã dũng cảm bớt đi thứ được xem là “đặc sản” trong phong cách: đàn piano.

“Bắt tai” là từ hoàn hảo để mô tả Try Sleeping with a Broken Heart. Ca khúcra đời với nhiệm vụ bám vào tâm trí người nghe ngay từ lần đầu.

Tiếng synthesizer mở đầu nhỏ nhẹ rồi trườn vào bài hát như một con rắn. Bộ gõ (percussion) đánh dồn dập với nhịp điệu không đổi.

Hai nhà sản xuất Jeff Bhasker (We Are Young) và Plain Pat (Rare) đã đem những gì tinh túy nhất trong âm nhạc của Prince dâng về cho Keys. Đến cuối bài, họ mới cho piano xuất hiện để xác nhận đây là ca khúc của cô.

Điều đáng chú ý là kể từ khi cất giọng, Alicia Keys không hề ngừng nghỉ. Cô hát liên tiếp để kéo người nghe vào câu chuyện. Cô tuân thủ tuyệt đối chiến thuật “tấn công” – thứ mà người ta thường nhắc đến khi nghĩ về Christina Aguilera.

Đúng như nhan đề, ca từ là lời tự sự của “một con tim tan vỡ”. Chủ đề không mới, nhưng cách triển khai của Keys đã trưởng thành hơn hẳn thời Fallin’.

Cô đi từ mời gọi (“Anh có thể thử trên giường của em”) đến hờn trách (“Anh đã nói sẽ không bao giờ bỏ em”), và cuối cùng là dứt khoát (“Đêm nay em sẽ làm điều đó mà không cần anh”).

Vẫn là đau đớn vì tình, nhưng lần này Alicia Keys đã thực sự là “đàn bà”.

Alicia Keys máu lửa cùng Jay-Z trên sân khấu.
Alicia Keys máu lửa cùng Jay-Z trên sân khấu.

7. Empire State of Mind (2009)

Album: The Blueprint 3
Thể loại: Hip hop, R&B
Phát hành: 10/2019


Là ca khúc không nằm trong bất kỳ album nào của Alicia Keys, Empire State of Mind có số phận khá gian truân từ lúc ra đời đến khi được Keys góp giọng.

Ban đầu, Angela Hunte (Do Somethin’) cùng Janet Sewell-Ulepic sáng tác ca khúc nhằm mục đích tôn vinh New York – quê hương của cả hai. Họ gửi cho Jay-Z và bị từ chối thẳng thừng.

Nhiều tháng sau, bài hát một lần nữa lại được gửi đến rapper nổi tiếng. Anh quyết định giữ phần hook (điểm nhấn) nhắc đến “New York”, đổi lời chính (verse) và thay giọng Hunte bằng Alicia Keys.

Lời ca và phím đàn của Keys chính là điểm sáng của bài. Tiếng piano len lỏi, không bao giờ chịu lép vế trước phần bass mạnh và giọng rap liên hồi của Jay-Z, chỉ cho đến khi Keys cất lời.

Cô hát: “Giờ bạn ở New York / Đường phố sẽ khiến bạn tươi mới / Đèn lớn sẽ truyền cảm hứng cho bạn.”

Phần hook khiến bài hát vượt khỏi phạm vi tri ân ban đầu. Nó khích lệ cả những kẻ mới đặt chân đến thành phố không ngủ. Người nghe có thể không hiểu Jay-Z nói gì, nhưng giọng của Keys thì cứ vang vọng mãi.

Empire State of Mind được đưa vào album The Blueprint 3 (2009) của Jay-Z, đứng đầu bảng Billboard trong 5 tuần liên tiếp, thắng 2 kèn vàng tại Grammy 2011.

Thành công của bài khiến Alicia Keys quyết định thu bản solo (hát đơn) mang tên Empire State of Mind (Part II) Broken Down. Ca khúc được xem là phần tiếp (sequel) của bài gốc, phối theo phong cách unplugged (không dùng nhạc điện tử), chỉ sử dụng piano.

8. Girl on Fire (2012)

Album: Girl On Fire
Thể loại: R&B
Phát hành: 9/2012


Bước sang thập niên 2010s, liệu cái tên Alicia Keys có còn đủ sức hút? Nữ ca sĩ trả lời: “Bạn có thể thử, nhưng sẽ không thể nào quên được tên cô ấy”.

Girl on Fire ra đời với ý nghĩa tái khởi động sự nghiệp của Alicia Keys, là ca khúc đầu tiên cô thực hiện sau khi chấm dứt hợp đồng với hãng để “chuyển nhà” sang RCA (Sony).

Lời bài hát vẽ tiếp ước mơ siêu nhiên của Keys: cô không chỉ “bay” được, mà còn có thể “bước đi trên lửa”.

Trong bài, Alicia Keys không phải là lửa. Cô là một ngọn đuốc. Nữ ca sĩ cởi bỏ lớp áo Siêu Nhân trong Superwoman để hóa thân thành phiên bản nữ của Johnny Storm trong Fantastic Four.

Ca khúc tiếp tục phát triển lối hát “tấn công” của Try Sleeping with a Broken Heart, nhưng tất cả sức mạnh dồn hết vào điệp khúc. Ca từ ngắn gọn, thoáng nhắc đến thế giới với nhiều “thảm họa” và nỗi đau.

Làm nền cho giọng hát của Keys là tiếng trống mạnh mẽ của nhóm rock Billy Squier trong ca khúc The Big Beat (1980). Phần sản xuất của Jeff Bhasker và Salaam Remi (Back To Black) thực sự đã đẩy giọng hát của Keys lên “đỉnh của thế giới”.

Bài hát không có một chút nỗi buồn, bởi Alicia Keys đang ngập tràn hạnh phúc với cuộc hôn nhân cùng nhà sản xuất âm nhạc Swizz Beats. Họ vừa chào đón con trai đầu lòng, Egypt.

Girl On Fire là một thành công thương mại bất ngờ, là bản hit quốc tế của Alicia Keys, được chứng nhận 5x Bạch kim từ RIAA (Hiệp hội Ghi âm Hoa Kỳ).

Trong album chính thức cùng tên, Keys mời Nicki Minaj góp giọng trong phiên bản mang tên Inferno, chỉ để “thêm dầu vào lửa”.

Hình ảnh trần trụi, giản đơn của Alicia trong album Here (2016).
Alicia Keys trần trụi, giản đơn trong album Here (2016).

9. Blended Family (What You Do For Love) (2016)

Album: Here
Thể loại: Hip hop, R&B
Phát hành: 10/2016


Sau thành công lớn từ album Girl On Fire, Alicia Keys biến mất và trở lại thầm lặng với Here (2016). Album cũng nhẹ nhàng và riêng tư hơn so với các album trước. Keys không còn chú trọng về thành công thương mại mà chủ yếu hát cho bản thân.

“Blended family” hay “stepfamily” là cụm từ dùng để chỉ những gia đình mà vợ chồng sống chung với con riêng của vợ hoặc chồng. Trường hợp này đúng với Keys, khi chồng cô – A$AP Rocky – có một con trai riêng tên là Kasseem Dean. Bài hát này là lời Keys dành tặng riêng cho Dean.

Phần sản xuất của Blended Family thô ráp, sử dụng guitar và trống làm chủ đạo. Bài hát có sự tham gia của rapper A$AP Rocky thay cho đoạn chuyển (bridge).

Trong bài, Keys hát khá trìu mến và chân thật: “Mẹ không phải mẹ ruột con / Nhưng không có nghĩa mẹ không yêu con / Và dù mẹ cưới bố con / Đó không phải lý do duy nhất mẹ ở đây với con”.

Giống Alicia Keys, A$AP Rocky cũng mượn ca khúc này làm cơ hội để tâm sự về bản thân. Anh kể về việc có mẹ kế lúc lên chín, về bữa tối mẹ kế nấu và những là bà đưa anh đến bữa dạ hội.

Lời hát riêng tư và âm nhạc bỏ qua những yếu tố thị trường khiến Blended Family không có thành tích nổi bật so với các ca khúc khác của Keys. Song, ca khúc thấy rõ cô đã ngày càng trưởng thành theo thời gian.

Hình ảnh Alicia Keys trong album tự đặt tên Alicia (2020)
Hình ảnh mới của Alicia Keys trong album tự đặt tên Alicia (2020)

10. Time Machine (2019)

Album: Alicia
Thể loại: Funk
Phát hành: 11/2019


Show Me Love là đĩa đơn đầu tiên, nhưng Time Machine mới thực sự là phát súng mở màn cho Alicia (2020) – album tự đặt tên đánh dấu sự trở lại của Alicia Keys sau bốn năm kể từ Here.

So với cách sáng tác thời kỳ đầu, ca từ của Alicia Keys đã thôi đề cập đến tình yêu đôi lứa. Nữ ca sĩ bắt đầu trăn trở về cuộc sống khi sắp sửa bước sang tuổi 40.

Cô nhìn vào gương và sợ hãi hình ảnh mình đang đối diện. Thời gian trở thành nỗi muộn phiền cô không thể trốn tránh. Cô thấy tuổi trẻ bay vèo như cơn gió qua cửa sổ. Những giấc mơ ngày xưa trở thành ác mộng đeo bám cô hàng đêm.

Ở phần điệp khúc, nữ ca sĩ bắt đầu xoay 180 độ. Cô tuyên bố: “Không / Ta không thể quay lại / Cuộc đời đâu phải cỗ máy thời gian / Nhưng một khi bạn giải phóng tâm trí / Mọi thứ đều thật đẹp đẽ.”

Keys hát từ tốn, nhưng bài hát thì dồn dập với tốc độ lên đến 106 nhịp/phút, nếu phải so với 93 nhịp/phút của Girl On Fire.

Âm nhạc trong Time Machine cũng hoàn toàn khác biệt. Bản phối do Keys thực hiện cùng Rob Knox (The 20/20 Experience) tái tạo âm thanh retro-funk với tiếng synthesizer gần như chủ đạo.

Synthesizer luồn lách dưới phần beat ngập trong những tiếng tiếng bass dày và chắc. Khi Keys kết thúc điệp khúc, synthesizer trồi lên như sóng tạt vào bờ.

Bên cạnh sự mới lạ, Time Machine cũng cho thấy sự cứng đầu của Alicia Keys. Cô hoàn toàn có thể đổi mới chính mình, nhưng chưa bao giờ dám vượt qua ngưỡng an toàn.

Time Machine là một dấu hiệu tốt, khẳng định âm nhạc của Keys sẽ còn những biến đổi đáng trông đợi theo thời gian.

Ngoài 10 bài hát trên, Alicia Keys còn nhiều sáng tác hay rải rác trong các album, cũng như cộng tác cùng các nghệ sĩ khác.

Trong phạm vi giới hạn, tác giả chọn ra 10 bài có thể xem là tiêu biểu nhất.

*Danh sách tham khảo từ MasterClass. Thông tin tổng hợp từ Wikipedia.

2018: Biệt đội siêu diva trở lại âm nhạc
2018: Biệt đội siêu diva trở lại âm nhạc
//

PLAYLIST 2018: Biệt đội siêu diva trở lại

Không hẹn mà gặp, các diva lần lượt trở lại âm nhạc trong năm 2018: Diana Krall song ca cùng Tony Bennett, Christina Aguilera hợp tác với Kanye West, còn Barbra Streisand lại giơ ngược ngón cái về phía Donald Trump. Đây quả là một mùa bội thu dành cho công chúng yêu nhạc.


Cùng một năm mà Thanos tiêu diệt hơn một nửa số siêu anh hùng trong Avengers: Infinity War, chẳng biết ma xui quỷ khiến hay thần linh mách bảo mà một loạt các diva – những nữ thần trong âm nhạc – đồng loạt rủ nhau trở lại. 

Có sự trở lại được mong chờ từ rất lâu (Robyn), có sự trở lại hoàn toàn bất ngờ (Toni Braxton). Có người trở lại trong an toàn (Cher), có người trở lại đầy gai góc (Mariah Carey).

Có sự trở lại để giành lấy vầng hào quang đã mất (Christina Aguilera), có sự trở lại để khẳng định vị thế của một nữ hoàng (Barbra Streisand).

Số khác nhún vai và nói rằng: mình thích thì mình trở lại thôi!

1. Toni Braxton: Trở lại với những bản R&B “vỡ tim”

Album: Sex & Cigarettes
Phát hành ngày: 23/3

diva-2018-sonphuoc-01

Sau album song ca cùng người cộng sự thân thiết là nhà sản xuất Babyface mang tên Love, Marriage & Divorce (2014) – thắng giải “Album R&B xuất sắc nhất” tại Grammy năm 2015, Toni Braxton viết nốt chương tiếp theo của cuốn tiểu thuyết tình yêu nhuốm màu ướt át thời kỳ hậu ly dị, bất kể sự thật là cô vừa đính hôn cùng rapper kiêm nhà sản xuất Birdman hồi đầu năm nay.

Tám ca khúc với dung lượng vỏn vẹn chỉ nửa tiếng đồng hồ là những gì mà khán giả hâm mộ có thể mường tượng từ nữ ca sĩ Un-break my heart: chất nhạc R&B thập niên 90 ngọt như mía lùi, giọng hát đậm đặc đàn bà tính, và con tim chưa bao giờ nguôi thổn thức vì tình yêu tan vỡ.

Phải nói rằng Toni Braxton là diva của những vận xui vì ngoài chuyện đời tư lắm thăng nhiều trầm, album gần đây nhất của cô – Pulse (2010) – cũng không được đón nhận nồng nhiệt dù là một sản phẩm tốt.

Với tên gọi Sex & Cigarettes, đây là album thứ tám và cũng là album đầu tiên của Toni gắn nhãn “Parental Advisory” (tức là con trẻ muốn nghe phải xin ý kiến bố mẹ). Vậy nên không hề khó hiểu khi có hẳn một ca khúc tên là FOH – viết tắt của “Fuck outta here” – nơi cô nói gót Sinéad O’Connor tập đếm thời gian khi chờ tin nhắn của người tình. Trong My Heart, cô góp giọng cùng Colbie Caillat và một lần nữa khẳng định rằng con tim là thứ quý giá nhất của cuộc đời.

Nửa sau album khá cũ kỹ về mặt nội dung khi quanh quẩn với sự hối tiếc (Sorry), buồn chán (Coping), nhớ nhung (Missin’). Nhưng nửa đầu album thực sự đáng nghe, đặc biệt là bản hit sinh sau đẻ muộn Long As I Live – rất có thể sẽ thống trị bảng xếp hạng nếu phát hành cách đây hai thập kỷ.

Nên nghe thử: Long As I Live, Deadwood, FOH.

2. Kylie Minogue: Họa mi nước Úc nhảy nhót cùng nhạc country

Album: Golden
Phát hành ngày: 06/4

diva 2018 sonphuoc 02

Theo lẽ thông thường, các nữ ca sĩ sẽ lao ngay vào phòng thu để thực hiện một album thất tình sau khi tạm biệt bạn trai, nhưng Kylie Minogue thì không. Ở tuổi 50, diva nước Úc chứng tỏ rằng mình đã quá già để hát những ca khúc chia tay buồn bã, nhưng lại quá trẻ để bắt đầu thử sức với country.

Sau khi chấm dứt mối quan hệ mặn nồng với chàng diễn viên người Anh Joshua Sasse kém cô hơn gần hai con giáp, Kylie Minogue lặng lẽ bay đến Nashville – cái nôi của dòng nhạc country-pop Mỹ quốc – để thu âm album mới. Kết quả là ta có một phiên bản đồng quê không kém phần vui vẻ nhưng nhẹ nhàng và mềm mại hơn của Aphrodite (2010).

Đáng chú ý, đây là lần đầu tiên Kylie tham gia sáng tác tất cả các ca khúc kể từ thời Impossible Princess (1997). Thay vì oán trách người cũ, cô dành phần lớn thời lượng album để ca ngợi tình yêu. Điển hình là Stop Me From Falling với những tiếng búng guitar hòa quyện vào phần dance pop quen thuộc của Kylie, hay phần mở màn sặc mùi thuốc súng miền viễn tây trong ca khúc chủ đề Golden. 

Ngay cả những khoảnh khắc đau đớn nhất như A Lifetime to repair hay Radio On thì lời hát vẫn tràn đầy sự lạc quan, yêu đời. Âm nhạc của Kylie Minogue luôn là vậy: hơn một thập kỷ chống chọi căn bệnh ung thư vú, ta không hề phát hiện nỗi đau xuất hiện trong các ca khúc của cô.

Riêng lần này có một chút ngoại lệ: Music’s Too Sad Without You (Gente De Zona góp giọng) khép lại cả album nhắn ta nhớ rằng môi cô cười nhưng tim thì đau lắm đấy. Thi thoảng mới có một lần nên lần này Kylie quyết định chơi lớn: trong bản đặc biệt cô tặng kèm đến bốn ca khúc nâng tổng số bài hát lên thành mười sáu.

Nhưng liệu country có phải là lựa chọn đúng đắn của cô? Trong Love, cô trả lời rằng: “Love is a matter of taste”. Tất cả tùy thuộc vào “gu” mỗi người mà thôi.

Nên nghe thử: Stop Me From Falling, Dancing, Golden.

3. Christina Aguilera: Diva nhạc pop của thế hệ Y

Album: Liberation
Phát hành ngày: 15/6

diva 2018 sonphuoc 03

Christina Aguilera luôn là một nghệ sĩ tham vọng và không ngừng nỗ lực khai phá bản thân, dẫu có không ít lần cô lạc lối và mất phương hướng trên con đường âm nhạc của mình.

Gần một thập kỷ vừa qua khán giả nhớ đến giọng ca khủng nhất của thế hệ Y với tư cách là huấn luận viên của The Voice nhiều hơn là hai album phòng thu gần đây. Những tưởng Bionic (2010) chỉ là một cú trượt chân ngoài ý muốn (album có điểm sáng, nhưng thất bại về thương mại) thì đến Lotus (2012) cô thực sự ngã sấp mặt: thay vì “tái sinh” như một đóa hoa sen, ta chỉ thấy nữ ca sĩ hoàn toàn biến mất sau khi lùi sâu xuống vũng bùn.

Vậy nên, Liberation ra đời với sứ mạng đưa chủ nhân của nó “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” đúng như gợi ý từ nhan đề. Nửa đầu album là một Xtina quen thuộc với cái kiểu đan xen những bản interlude vào album để dẫn chuyện, với những bản power ballad khoe chất giọng khủng như Fall In Line (song ca cùng Demi Lovato) – nơi cô bung xõa và không ngán một ai.

Nửa sau album mới thực sự là một cuộc cách mạng của nữ ca sĩ mang bí danh X: cô thả lỏng mình vào không gian mềm mại của reggae (Right Moves), quyến rũ chết người vởi bản R&B tối giản nhịp trung (Pipe), rồi lại đột ngột chuyển hướng trở về pop thập niên 80 (Masochist).

Chưa đủ? Trong Accelerate – đĩa đơn mở màn cộng tác cùng Kanye West, Xtina không ngần ngại thử sức với hiphop sau khi cắn thuốc và quậy banh các câu lạc bộ.

Đáng tiếc, Liberation vẫn mắc phải lỗi khi Xtina tham lam khoe giọng bằng những ballad “yêu hay không yêu” (Twice, Unless It’s With You), khiến ta chỉ thầm ước rằng cô sẽ còn “tăng tốc” dữ dội hơn ở chặng đường sắp tới.

Nên nghe thử: Accelerate, Right Moves, Pipe.

4. Diana Krall: Diva nhạc jazz song ca cùng Tony Bennett

Album: Love is here to stay
Phát hành ngày: 14/9

diva 2018 sonphuoc 04

Nếu cái vẻ điềm tĩnh, trầm lắng của Tony Bennett khi đặt bên cạnh phong cách dữ dội, căng tràn năng lượng của Lady Gaga tạo nên sự tương phản mạnh mẽ như nước với lửa, như ‘ying’ với ‘yang’, thì giọng ca ấy – nay đã 92 – lại hòa quyện cùng sự mềm mại, ngọt ngào của Diana Krall – nay vừa 54 – như một quý bà và quý ông thực thụ.

Love is here to stay là tuyển tập gồm 12 sáng tác nổi tiếng của hai anh em nhạc sĩ George và Ira Gershwin, do Tony Bennett và Diana Krall cùng nhau lựa chọn từ cuốn Great American Songbook, với tiêu chí là “những bản mình thích nhất và cảm thấy phù hợp nhất”.

Khác với Lady Gaga, Diana Krall khép vào bờ vai của Tony Bennett đầy nhún nhường, kiểm soát bản thân nhiều hơn là phô trương cá tính. Đây không phải là lần đầu tiên Diana song ca cùng Tony, càng không phải là lần đầu tiên Tony song ca cùng một nữ ca sĩ, nhưng Love is here to stay chắc chắn là lần song ca hòa quyện nhất từ trước đến nay của cả hai: 12 ca khúc thì chỉ có hai bài hát đơn.

Nó (một lần nữa) nhắc cho giới mộ điệu nhớ rằng cụ ông của làng nhạc jazz không chỉ khỏe mạnh mà còn “mắn đẻ”. Ông hát lại ca khúc Fascinating Rhythm – thu âm lần đầu tiên năm 1949 từ khi còn dùng nghệ danh Joe Bari – với một tinh thần không thể sảng khoái hơn. 

Nhưng Diana hay Tony nào phải là những ngôi sao duy nhất của Love is here to stay, rất nhiều khoảng trống trong album được lấp đầy bởi phần âm nhạc bồng bềnh, lãng đãng của bộ ba nhạc công Bill Charlap Trio, hẳn sẽ khiến những người yêu jazz thỏa lòng mong đợi.

Nên nghe thử: Somebody Loves Me, Love Is Here To Stay,
They Can’t Take That Away From Me.

5. Cher: Diva không tuổi chinh phục âm nhạc ABBA

Album: Dancing Queen
Ngày phát hành: 28/9

diva 2018 sonphuoc 05

Cher mở màn Dancing Queen bằng ca khúc nổi tiếng cùng tên với lời hát: “trẻ trung, ngọt ngào, em mới mười bảy chứ mấy” và ngay lập tức khiến ta quên mất rằng bà nay đã qua tuổi bảy mươi.

Tham gia vào phần tiếp theo của bộ phim ca nhạc nổi đình nổi đám một thời Mamma Mia!, Cher khiến tất cả những diễn viên khác – bao gồm có Meryl Streep – phải lu mờ khi cất giọng trong ca khúc Fernando. Vẫn cái giọng trầm khàn ấm áp không hề suy chuyển từ thời Believe, Cher kéo cả một bầu trời thương nhớ trở về với người yêu nhạc ABBA.

Hình như có ai đó nói nhỏ rằng album nhạc phim cũng ăn nên làm ra – đứng đầu bảng xếp hạng Billboard khi ra mắt năm 2008 và sau một thập kỷ vẫn được phát hành đều đặn – bất chấp việc dàn diễn viên không có một ai là ca sĩ chuyên nghiệp. Đột nhiên Cher bèn suy nghĩ: “Tại sao không?” và thế là là Dancing Queen ra đời.

Đây là album thứ 26 của “nữ hoàng khiêu vũ” nhưng (đáng ngạc nhiên) lại là album tri ân đầu tiên của bà. Phần đầu với sáu trên mười ca khúc, Cher yêu cầu ta phải nhún nhảy theo những vũ điệu đã đi vào kinh điển (SOS, Gimme! Gimme! Gimme!): nghe thử Waterloo và tưởng tượng Cher sẽ rock ca khúc này như thế nào trên sân khấu.

Bốn ca khúc cuối cùng Cher lại dìm người nghe vào không gian bùi ngùi trầm lắng của những bản tình ca tan vỡ (The Winner Takes It All, One Of Us): nghe thử Chiquitita và sẵn sàng gục ngã trước giai điệu flamenco đau nhói lòng.

Và ơn giời Fernando đây rồi! Chỉ thế thôi là đủ để ta tạm tha thứ việc nữ diva lạm dụng auto-tune ở một vài khoảnh khắc không cần thiết trong cả album.

Nên nghe thử: Fernando, The Winner Takes It All, One Of Us.

Theo chiều kim đồng hồ: Kylie Minogue, Diana Krall và Tony Bennett, Mariah Carey, Christina Aguilera. Tất cả đều đồng loạt tung sản phẩm mới trong năm 2018.
Theo chiều kim đồng hồ: Kylie Minogue, Diana Krall và Tony Bennett, Mariah Carey, Christina Aguilera. Tất cả đều đồng loạt tung sản phẩm mới trong năm 2018.

6. Yoko Ono: Nàng thơ phản chiến của John Lennon

Album: Warzone
Ngày phát hành: 19/10

diva 2018 sonphuoc 06

Tiếng súng nổ vang rền, tiếng quạ kêu, những con thú gầm gừ trong đau đớn, Yoko Ono mở đầu album phòng thu thứ 13 của mình bằng một không gian không thể hỗn loạn hơn – gợi nhớ phần mở đầu của album Take Me To The Land of Hell (2013) nhưng đen tối gấp bội phần.

Những âm thanh đó không dừng lại mà tiếp tục thoát ẩn thoát hiện xuyên suốt thời lượng của Warzone. Đó là vùng chiến, “chúng ta đang sống trong vùng chiến” (We are living in a warzone), nữ ca sĩ sinh năm 1933 cất giọng thay cho lời cảnh tỉnh đối với khán giả. 

Warzone không phải là thứ âm nhạc dễ chịu để nghe thư giãn vào mỗi chiều thứ bảy, Yoko Ono yêu cầu người nghe phải căng não, vận dụng tất cả chất xám lẫn nơ-ron thần kinh để suy nghĩ về những điều bà muốn nói, dù chiến tranh là đề tài không mới nhưng cũng chưa bao giờ cũ.

Phần lớn bài hát đều được lược bỏ nhạc cụ để phối lại theo hướng tối giản hóa, nhưng chất rock từ giọng hát, tinh thần hippie của của Yoko Ono thì vẫn vẹn nguyên (nghe thử Children Power), dù bà nay đã bước sang tuổi 85. Ca khúc khó nghe nhất chắc hẳn là Why, khi nữ ca sĩ liên tục gào thét nhưng không nhận được lời giải đáp. 

Ngoại trừ phiên bản Imagine do Yoko Ono tự chiêm nghiệm, mười hai ca khúc còn lại trong Warzone là những sáng tác cũ nằm rải rác trong những album trước đó của bà, từ thời Approximately Infinite Universe (1973), Feeling The Space (1973) cho đến Starpeace (1985), Rising (1995) – chính xác là hơn bốn thập kỷ ca hát.

Thế nên, Warzone vừa là một tuyển tập Greatest Hits, lại vừa là một concept album với đề tài phản chiến, cũng có thể là cánh cửa dẫn đường hoàn hảo dành cho những người đầu tiên bước chân vào thế giới âm nhạc avant-garde (tiên phong) của Yoko Ono.

Nên nghe thử: Warzone, Woman Power, Children Power.

7. Robyn: Biểu tượng pop của âm nhạc Thụy Điển

Album: Honey
Ngày phát hành: 26/10

diva 2018 sonphuoc 07

Cách đây hơn một năm, Robyn khiến khán giả hâm mộ phải sốt sồn sột khi tung một ca khúc mới toanh mang tên Honey ngay trong mùa cuối cùng của sê ri phim truyền hình Girls, để rồi lại tiếp tục biến mất.

Ngay lập tức, từ khóa #ReleaseHoneyDamnit một thời đình đám trên bảng thịnh hành không thua kém gì trào lưu #MeToo của Hollywood. Nhưng Robyn chỉ lẳng lặng đáp rằng: “No, you’re not gonna get what you need” (bạn sẽ không có những gì bạn cần đâu) và album Honey ra đời đúng với tiêu chí đó: vỏn vẹn chín ca khúc thay vì hơn một tá, âm nhạc mang tính thử nghiệm nhiều hơn là tạo hit.

Một nửa album là lời tri ân dành cho “câu lạc bộ những người yêu Robyn” với một loạt Missing U, Because It’s In The Music, Ever Again khuấy đảo sàn nhảy về đêm. Vẫn là một Robyn lẳng lặng ôm trái tim tan vỡ nhảy nhót một mình trong góc tối của một vũ trường sôi động, nhưng nay đã dịu dàng và đằm thắm hơn khi sắp sửa bước qua tuổi 40. Nửa còn lại là khi Robyn thích hát gì thì hát vì chị không có ý định cạnh tranh với các đàn em như Katy Perry hay Lady Gaga.

Chẳng hạn như Beach2k20 chỉ đơn giản là cú điện thoại của Robyn mời gọi bạn bè ra biển chơi. Hay là một ca khúc đột nhiên xuất hiện trong hòm thư điện tử của Robyn vào một buổi sáng, với lời nhắn trực tiếp từ nhà sản xuất Adam Bainbridge: “gửi cho Robyn ngay lập tức”. Bỗng nhiên Send to Robin Immediately ra đời, như một định mệnh. Đọc thêm bài viết đầy đủ hơn ở đây.

Nên nghe thử: Missing U, Honey, Because It’s In The Music.

8. Barbra Streisand: Diva của những diva và cái tát dành cho tổng thống Mỹ

Album: Walls
Ngày phát hành: 02/11

Music Review - Barbra Streisand

Ở tuổi 76 bạn sẽ làm gì khi đã có gần như tất cả trong tay: danh tiếng vang dội, tiền bạc chất núi, gia đình ấm yên, chưa kể một đàn chó bầu bạn hàng ngày – mà bạn thích đến nỗi phải nhân bản thành hai con để ôm cho đã?

Nữ hoàng Barbra Streisand của chúng ta trả lời: tất nhiên là phải lao ngay vào phòng thu luyện giọng để xả stress. Năm 2014, bà song ca với cả tá nam nhân trong Partners, năm 2016 bà dụ dỗ Anne Hathaway, Chris Pine và một loạt ngôi sao điện ảnh khác chuyển nghề trong Encore: Movie Partners Sing Broadway. Nhưng Walls – album duy nhất tuyển tập những sáng tác mới toanh kể từ thời Guilty Pleasures (2005) – mới là điều mà khán giả chờ đợi ở giọng ca vàng bấy lâu nay. 

Có thể hình dung nó như là một phiên bản dễ chịu và thân thiện với người nghe hơn là Warzone của Yoko Ono. Từ bản mashup hai ca khúc nổi tiếng ImagineWhat A Wonderful World, bản cover ca khúc What The World Needs Now, cho đến những ca khúc mới như Don’t Lie To Me, Barbra Streisand phủ lên cả album một gam màu u tối ảm đạm như góc nhìn của bà trước cảnh tượng buồn bã của nước Mỹ ở thời kỳ Trump.

Trong What’s On My Mind, Barbra nằm trằn trọc trên giường, nghĩ về hình ảnh của những đứa trẻ ngây thơ vô tội. Trong Don’t Lie To Me, bà đáp rằng ngủ sao được khi mà thế giới đang chuyển mình. Điều đáng mừng là Walls dung hòa tốt giữa các sáng tác mới vầ cũ, giữa phong cách jazzy quen thuộc của nữ diva với một chút pop hiện đại, đủ để người nghe không bị nhàm chán trong suốt thời lượng 47 phút đồng hồ.

Nên nghe thử: What’s On My Mind, Don’t Lie To Me, What The World Needs Now.

9. Sarah Brightman: Diva của dòng nhạc cổ điển giao thoa

Album: Hymn
Ngày phát hành: 09/11

diva 2018 sonphuoc 09

Hymn là album thứ mười lăm của giọng nữ cao trứ danh xứ sở sương mù Sarah Brightman, là album thứ chín bà cộng tác cùng nhà sản xuất người Đức Frank Peterson, cũng là album có thời gian thực hiện lâu nhất, sau năm năm vắng bóng kể từ thời Dreamchaser (2013).

Nếu trước đó Sarah Brightman lấy khoa học và vũ trụ làm nguồn cảm hứng – Dreamchaser như một lời kỷ niệm cho việc bà là nữ ca sĩ đầu tiên bay ra ngoài không gian – thì lần này bà lại mượn tôn giáo và đức tin để dẫn dắt câu chuyện. Đặt tên album là Hymn (thánh ca), Sarah Brightman vẽ nên một không gian rộng lớn nơi thánh đường ngập tràn ánh sáng, niềm tin và hy vọng.

Mười hai ca khúc được thu âm trong vòng hai năm rải rác ở nhiều địa điểm khác nhau – từ Hamburg đến Miami, từ London đến Vancouver, thậm chí là Budapest – nhưng lại hòa quyện thành một tổng thể thống nhất, với giàn nhạc giao hưởng và hợp xướng làm màu sắc chủ đạo. Đáng ngạc nhiên là, Hymn lại dễ nghe, pop hơn hẳn các album gần đây của Sarah Brightman, dù bà không chỉ hát duy nhất bằng tiếng Anh.

Ca khúc tiêu biểu nhất là Fly to Paradise, cho thấy những gì xuất chúng từ giọng ca 58 tuổi. Sarah Brightman hát như một nữ thần thực sự, khi nhẹ nhàng, bay bổng, khi công phá lấn át cả dàn nhạc công. Ngược lại, You với guitar chủ đạo chứng tỏ rằng Brightman vẫn có thể dịu dàng như một khúc hát ru. 

Trong Miracle, bà góp giọng cùng tiếng piana của huyền thoại Yoshiki từ nhóm nhạc X Japan, và người nghe còn có thể làm gì khác ngoài việc căng màn nhĩ để chuẩn bị rót mật vào tai.

Nên nghe thử: Fly To Paradise, Sogni, Time To Say Goodbye.

10. Mariah Carey: Diva giàu năng lượng nhất trong bộ ba Trinity

Album: Caution
Ngày phát hành: 16/11

diva 2018 sonphuoc 10

Cẩn thận! Quý bà “cô quá béo, giờ cô lại quá ốm” đã trở lại. Sau nhiều năm biến mình trở thành minh họa sống cho phần lời ca khúc Piece Of Me của Britney Spears, Mariah Carey tái xuất với Caution và nhắc ta nhớ rằng: cô có thể (vô tình) quên mất Jennifer Lopez là ai, nhưng khán giả thì không được phép quên Mariah Carey là ai.

Khoan đã! Mariah Carey có bao giờ biến mất? Nữ hoàng nhạc giáng sinh có vẻ đã chán ngấy việc thống trị bảng xếp hạng bằng một sáng tác cũ rích từ thập niên 90, nên quyết định tung album mới vào dịp cuối năm một cách đầy tự tin.

Còn nhớ album trước đó có cái tên rất dài Me. I Am Mariah… The Elusive Chanteuse (2014) gồm 14 ca khúc với dung lượng gần một tiếng đồng hồ là những gì rất “riêng tư” mà lẽ ra cô phải nói tuốt tuồn tuột từ thời Memoirs of an Imperfect Angel (2009), mà thực ra phải từ thời E=MC² (2008), hay chính xác hơn phải là thời The Emancipation of Mimi (2005)?

Đã hết đâu, Caution tiếp tục chen vào bộ sưu tập những album “riêng tư” không-hồi-kết của quý bà Mimi nhưng lần này đã kiệm lời hơn trước khi chỉ lựa đúng 10 ca khúc như thể muốn nói rằng chất lượng dẫu sao vẫn hơn là số lượng. Nữ diva tỏ ra cầu tiến hơn khi mời một loạt tên tuổi dữ dằn như Timbaland (8th Grade), Skrillex (The Distance) hay Blood Orange (Giving Me Life) thực hiện album nhưng tất cả đều bị “đè bẹp” bởi cá tính Mariah Carey quá mạnh, bất kể là ở vai trò ca sĩ, nhạc sĩ hay nhà sản xuất.

Sau khi đưa người nghe đắm chìm trong cái chất R&B pha hip-hop không thể lẫn vào đâu được, Caution khép lại bằng một bản ballad mang tên Portrait. Thế là các thí sinh thi The Voice hay Idol lại có thêm một lựa chọn cho vòng diva sắp tới.

Nên nghe thử: GTFO, With You, Caution.


Còn nữa: Diva âm nhạc tóc xù Macy Gray với album thứ mười Ruby (21/9), nữ danh ca Tracey Thorn của nhóm Everything But The Girl trở lại với album Record (02/03) hay diva âm nhạc Annie Lennox vừa tung ra đĩa đơn mang tên Requiem for a Private War (01/12), đều là những cái tên mà người yêu nhạc không nên bỏ qua.

error: Alert: Nội dung đã được bảo vệ !!