Điện ảnh - Page 3

Điện ảnh - Tổng hợp các bài viết về phim điện ảnh và truyền hình đăng trên Blog Sơn Phước. Tất cả các bài viết đều thuộc bản quyền của tác giả.

'Disobedience' - Mối tình đồng tính trong xã hội Do Thái
'Disobedience' - Mối tình đồng tính trong xã hội Do Thái
/

‘Disobedience’ – Mối tình đồng tính trong xã hội Do Thái

‘Disobedience’ (Sebastián Lelio) khai thác chuyện tình yêu của hai người phụ nữ, để bộ lộ sự tàn bạo trong xã hội Do Thái nhiều định kiến.


Điều gì đáng sợ nhất trong một xã hội không có tự do? Không phải việc chúng ta mất đi sự tự do, mà là việc không ai dám đứng ra đấu tranh vì nó.

Thông qua câu chuyện tình yêu bị kìm nén giữa hai người phụ nữ, đạo diễn Sebastián Lelio (A Fantastic Woman) đã lột tả một xã hội Do Thái cổ hủ, ngập tràn định kiến, nơi tự do bị bóp nghẹt bởi chính những người hàng ngày rao giảng về tự do.

Tình yêu ngăn cấm giữa hai người phụ nữ

Trong phim, cô đào Rachel Weisz thủ vai Ronit Krushka, một nhiếp ảnh gia có sự nghiệp thành công ở New York nhưng lại thiếu vắng tình yêu (ở đầu phim, cô hờ hững làm tình với một gã đàn ông xa lạ trong quán bar). Bất ngờ nhận được tin cha mình qua đời, Ronit khăn gói lên đường về nhà dự đám tang cha: ngài Rav Krushka, một Rabbi (thầy giảng đạo) được nể trọng trong cộng đồng Do thái chính thống ở Luân Đôn.

Người ta dành nhiều lời để ngợi ca ông nhưng lại chẳng hề nhắc đến cô con gái độc nhất, kẻ đã bỏ nhà ra đi lâu đến nỗi không một ai trông đợi cô trở lại. “Tiếc thay, ông ấy không có con”, một tờ báo mỉa mai xác nhận như thể Ronit chưa hề tồn tại.

Trong Disobedience, Esti bị kẹp giữa Ronit và Dovid, một người là chồng còn một người là nhân tình cũ. Cô không biết lựa chọn con đường nào để thoát ra.
Trong Disobedience, Esti bị kẹp giữa Ronit và Dovid, một người là chồng còn một người là nhân tình cũ. Cô không biết lựa chọn con đường nào để thoát ra.

Những gáo nước lạnh mà mọi người dành cho Ronit là một dấu hỏi lớn và không khó để thấu hiếu vì sao. Rất nhanh chóng, cô lần lượt gặp lại những người quen cũ, bao gồm Esti (Rachel McAdams) và Dovid (Alessandro Nivola) – hai người bạn thưở thiếu thời nay đã là một cặp vợ chồng. Quyết định tiến tới hôn nhân của Esti khiến Ronit choáng váng chẳng kém cái chết đường đột của cha mình. Những cái nhìn ái ngại mà hai người lén trao nhau cho thấy giữa họ không chỉ dừng lại ở mức tình bạn. Giống như nàng Carol trong bộ phim cùng tên của đạo diễn Todd Haynes, trái tim Esti lại rung lên một lần nữa khi gặp người tình cũ, bất kể việc cô đã có gia đình…

Xã hội Do Thái nhiều định kiến

Với những bộ phim lấy đề tài về đồng tính (LGBT), bối cảnh không gian và thời gian đóng một vai trò rất quan trọng: Carol đưa người xem trở về New York những năm 50, Brokeback Moutain tái hiện miền viễn Tây nước Mỹ thập niên 60, Call Me By Your Name là mùa hè nước Ý thập niên 80. Sự phản chiếu của xã hội lên số phận các nhân vật vẽ ra một bức tranh toàn cảnh về quá trình đấu tranh dành lại “tiếng nói” của những người đồng tính. Họ không được công nhận, bị cấm đoán, hắt hủi và hoàn toàn “thất lạc cõi người”.

Xét ở khía cạnh một chuyện tình, cách xây dựng mối quan hệ giữa Ronit và Esti không mới. Họ đơn giản chỉ là những người tình cũ, gặp nhau và “yêu lại từ đầu”. Giống như nhiều bộ phim có chủ đề tương tự, cả hai không thể thoải mái dành cho nhau những khoảnh khắc lãng mạn. Tình yêu giữa họ chỉ là những chiếc hôn vụng trộm, những lần ân ái trong bí mật. Song, điểm khiến Disobedience nổi bật chính là bối cảnh đương đại của bộ phim. Câu chuyện tình bình thường ấy được đặt trong một xã hội rất “khác thường”, cực kỳ cay nghiệt, nhất là về vấn đề hôn nhân và giới tính.

Trong Disobedience, Esti và Ronit có một cảnh nóng bạo liệt mà có thể sẽ còn được nhắc đến mãi sau này.
Trong Disobedience, Esti và Ronit có một cảnh nóng bạo liệt mà có thể sẽ còn được nhắc đến mãi sau này.

Trong những cảnh quay đầu phim, cha của Ronit đột ngột ngã quỵ khi đang rao giảng về kinh Torah. Theo ông, Thiên Chúa Hashen tạo ra con người khác với thiên thần và ác quỷ ở chỗ con người được tự do lựa chọn: “Chúng ta có ý chí tự do… Hashem cho chúng ta lựa chọn, về cả đặc quyền và gánh nặng”. Thế nhưng, những gì diễn ra sau đó lại chứng minh điều ngược lại. Các nhân vật hoàn toàn mất đi quyền định đoạt số phận của mình – một trong những quyền cơ bản nhất của con người.

Hệt như một lời nhận xét trong phim (“kết hôn là cách mọi chuyện nên diễn ra”), những người phụ nữ Do Thái chỉ có một con đường duy nhất, đó là kiếm cho mình một tấm chồng. Cuộc hôn nhân của Esti và Dovid chính là sản phẩm điển hình từ những định kiến cổ hủ ấy. Một cuộc hôn nhân giả tạo từ trong ra ngoài: hàng ngày họ nằm cạnh nhau như hai kẻ xa lạ (trên hai chiếc giường đơn tách biệt được ghép lại gần nhau), hàng tuần họ phải làm tình vào mỗi thứ sáu theo đúng luật lệ Do Thái (Esti lạnh nhạt khi làm tình với chồng bao nhiêu thì lại nồng nhiệt khi ở bên Ronit bấy nhiêu).

Không khí đậm mùi giả tạo

Không chỉ gói gọn trên phạm vi chiếc giường của hai vợ chồng Esti và Dovid, sự giả tạo gần như đã lan tỏa khắp nơi trong xã hội. Nếu Esti không thể sống thật với giới tính của mình thì Ronit như một con thú hoang lạc đàn, hoàn toàn bị cách ly khỏi cộng đồng. Quá khứ (đồng tính) của cô là một vết nhơ mà không ai muốn nhắc lại hoặc nhớ đến. Đáng ngạc nhiên là dù trở lại sau rất nhiều năm, Ronit thấy mọi thứ ở đây vẫn chẳng hề thay đổi: đàn bà có chồng phải đội tóc giả mỗi khi ra đường, đàn ông để râu rậm che kín mặt và câu cửa miệng của mọi người là “mong cháu sống thọ”. 

Cuộc hôn nhân của Dovid và Esti là một cuộc hôn nhân giả tạo từ trong ra ngoài. Họ phải làm tình vào mỗi thứ sáu đúng theo luật của dân Do Thái.
Cuộc hôn nhân của Dovid và Esti là một cuộc hôn nhân giả tạo từ trong ra ngoài. Họ phải làm tình vào mỗi thứ sáu đúng theo luật của dân Do Thái.

Sinh ra ở Argentina và chuyển đến Chilê khi mới lên hai, Sebastián Lelio bắt đầu theo học làm phim từ những năm 1995 nhưng phải đến thời gian gần đây mới thực sự gây được tiếng vang, nhất là với bộ phim A Fantastic Woman (thắng giải Oscar năm 2018 ở hạng mục “Phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc nhất”). Điểm trùng hợp là những tác phẩm giúp Lelio “ghi điểm” trên thị trường quốc tế đều nói về phụ nữ, bất kể đó là chân dung một người đàn bà lớn tuổi đi tìm tình yêu (Gloria, 2013), hay một người chuyển giới nữ tìm lại công bằng và bình đẳng (A Fantastic Woman, 2017).

Hai nàng Rachel “song kiếm hợp bích”

Disobedience là dự án phim nói tiếng Anh đầu tiên của Sebastián Lelio, do chính Rachel Weisz đầu tư sản xuất. Khác với những người phụ nữ nêu trên, hai nhân vật Esti và Ronit chẳng hề tìm kiếm điều gì. Họ yêu nhau nhưng lại không cố gắng giành lấy tình yêu của nhau. Có lẽ vì đề tài phim khá nhạy cảm (đồng tính, tôn giáo, văn hóa) nên đạo diễn chỉ đặt ra vấn đề mà không giải quyết triệt để. Cách xử lý nhịp phim chậm rãi cùng bầu không khí bức bối, ngột ngạt như mùa đông ở nước Anh khiến bộ phim thiếu hấp dẫn vì không có nhiều cao trào. Thay vì tạo một hiệu ứng cảm xúc mạnh mẽ, đạo diễn kết thúc cả câu chuyện trong sự lửng lơ và ít nhiều để lại tiếc nuối.

Diễn xuất xuất thần của Rachel Weisz và Rachel McAdams chính là điểm sáng của Disobedience. Đây cũng là đứa con tinh thần mà Rachel Weisz ấp ủ từ lâu.
Diễn xuất xuất thần của Rachel Weisz và Rachel McAdams chính là điểm sáng của Disobedience. Đây cũng là đứa con tinh thần mà Rachel Weisz ấp ủ từ lâu.

Một điểm vớt vát cho phim chính là diễn xuất của hai nàng Rachel. Vốn ưa thích đề tài đồng tính, Rachel Weisz đã săn lùng rất nhiều kịch bản trước khi đầu tư sản xuất dự án này. Có những khoảnh khắc Weisz gần như “rút ruột rút gan” với vai diễn Ronit, nhất là những cảnh làm tình bạo liệt trong phim. Ngược lại, Rachel McAdams có phần hơi lép vế so với đàn chị ở nửa đầu, nhưng càng về sau cô càng chứng tỏ được bản lĩnh của mình. McAdams luôn là một cái tên nỗ lực không ngừng trong sự nghiệp diễn xuất, chỉ là cô còn thiếu một chút may mắn để có thể tỏa sáng hơn nữa.

Trong Disobedience, cảnh quay Ronit và Esti sải bước bên nhau giữa phố phường Luân Đôn trong sự sợ hãi khiến ta rùng mình liên tưởng đến nàng Offred của The Handmaiden (Chuyện người tùy nữ, một sêri truyền hình ngắn của Mỹ dựa theo tiểu thuyết cùng tên của Margaret Atwood do Elisabeth Moss thủ vai chính). Hai câu chuyện có bối cảnh hoàn toàn khác biệt –  một giả tưởng ở thì tương lai, một đương đại ở thời điểm ta đang sống – nhưng cảm giác khi xem lại hoàn toàn giống nhau. Ronit, Esti hay Offred đều là những người phụ nữ không có tiếng nói trong xã hội, chỉ có thể im lặng chịu đựng và chờ đợi những tia hy vọng ở phía trước. Dù rất mong manh.


Đánh giá: ** (2/5)


Đọc thêm: Phim Châu Âu

‘Sharp Objects’ – Những vết cắt nội tâm

Chuyển thể từ tiểu thuyết của Gillian Flynn, Sharp Objects khắc họa một cách tàn bạo những sang chấn tâm lý của một người phụ nữ đầy bất ổn.


Phải nói rằng việc làn sóng nữ quyền ngày một dâng cao ở Hollywood đã phần nào củng cố vị thế của nữ văn sĩ Gillian Flynn khi cả ba tiểu thuyết của bà (đều thuộc dạng thriller, lấy nhân vật nữ chính là trung tâm) lần lượt được chuyển thể thành phim và gây sự chú ý.

Nếu Gone Girl (David Fincher, 2014) là một cú “hit” bất ngờ nhờ được lòng cả giới chuyên môn lẫn khán giả đại chúng thì Dark Places (Gilles Paquet-Brenner, 2015) lại là quả “bom xịt” đáng thất vọng. Ngay cả sự xuất hiện của cô đào nổi tiếng Charlize Theron cũng không thể nào vớt vát được những thất bại của bộ phim đáng quên lãng.

So với hai tác phẩm trên, Sharp Objects (dựa trên tiểu thuyết đầu tay phát hành năm 2006 của Flynn) là một câu chuyện có chiều sâu và thú vị hơn hẳn. Trong phim, Amy Adams vào vai Camille Preaker, một nữ phóng viên chuyên viết bài hình sự cho một tờ báo ở St. Louis, được yêu cầu quay về quê nhà để theo dõi vụ án mạng vừa xảy ra, liên quan đến hai cô gái trẻ.

Không lười biếng và hám tiền như Libby của Dark Places, lại càng không ma quái và quỷ quyệt như Amy của Gone Girl, Camille Preaker là một nhân vật có nội tâm vô cùng phức tạp. Một người phụ nữ bị tổn thương nặng nề cả về thể xác lẫn tâm hồn.

Amy Adams thủ vai chính Camille Preaker trong "Sharp Objects", cùng bạn diễn Chris Messina.
Amy Adams thủ vai chính Camille Preaker trong “Sharp Objects”, cùng bạn diễn Chris Messina.

Một nghiên cứu điển hình về tâm lý học

Theo chân hành trình truy tìm tội ác của Camille, người xem dấn sâu vào thế giới tâm lý đầy những mê cung của những người tưởng như bình thường. Họ hào nhoáng bên ngoài “nhưng nội tâm thì có hố sâu tăm tối” – đúng như lời nhận xét của một nhân vật.

Xuyên suốt bộ phim, Camille luôn bị ám ảnh bởi những ký ức thời thơ ấu khi phải chứng kiến cái chết của em gái Marian. Luôn thủ sẵn trong túi xách một vài chai rượu để định thần, Camille bắt đầu buổi sáng bằng cồn và qua đêm ở bất kỳ nơi nào khi đã say khướt. Cho đến khi sự căng thẳng của tâm trí đạt đến tột đỉnh, cô không còn cách nào khác ngoài việc tự hủy hoại bản thân: khắc lên cơ thể mình vô số vết sẹo.

Tương tự hai vụ án mạng, quá khứ và gia cảnh của Camille cũng là một ẩn số đối với khán giả.

Bố ruột cô chưa từng xuất hiện một lần, mẹ cô Adora Crellin (Patricia Clarkson) đã tái giá và sinh được một đứa con gái tên là Amma (Eliza Scanlen), người mà gần đây cô chẳng hề biết mặt.

Hồn ma của cô em gái đã chết thì liên tục thoắt ẩn thoắt hiện qua những đoạn hồi tưởng (flashback), khi lướt qua trong căn nhà tăm tối mang phong cách gothic của gia đình Crellin, khi lại lảng vảng trong những cánh rừng của Wind Gap, biến nơi đây trở thành một “thị trấn ma” đúng nghĩa.

Camille liên tục đối đầu với mẹ ruột và em cùng mẹ khác cha trong phim.
Camille liên tục đối đầu với mẹ ruột và em cùng mẹ khác cha trong phim.

Không chỉ đứt kết nối với gia đình, Camille còn liên tục hứng chịu những “gáo nước lạnh” từ người mẹ.

Adora không hề trông đợi Camile trở về. Bà luôn xem cô là đứa con gái bướng bỉnh, khó trị và dễ đem tai tiếng về phần mình trước những dị nghị của người dân trong thị trấn.

Một cảnh quay đắt giá khó quên trong phim, là khi Camille tranh cãi với mẹ trong một cửa hàng quần áo. Quá bất mãn, cô để lộ cơ thể đầy vết sẹo là rất nhiều chữ cái có nghĩa tiêu cực: chữ “wrong” (sai trái) hằn ngay trước ngực, chữ “fuck u” (mẹ kiếp) chạy dọc vùng eo và hằng hà sa số những chữ cái khác do cô tự tay rạch vào người mình.

Nỗi ám ảnh mang tên Wind Gap

Trong phim, Wind Gap được mô tả như là một thị trấn nhỏ nằm ở bang Missouri nước Mỹ. Đây vốn là một địa danh không có thật, nhưng nó khiến ta phải sởn gai ốc mỗi khi nghĩ về.

Giống như những con người sống ở đó, Wind Gap cũng yên bình ở bên ngoài, nhưng mục rỗng bên trong. Đó là nơi mà đàn ông kéo nhau vào quán bar ngay cả khi trời sáng, đàn bà tranh thủ nói xấu chủ nhà trong đám tang, những đứa trẻ chỉ được ra đường trong sự giới nghiêm của cha mẹ, chưa kể có quá nhiều mối nguy hiểm đang rình rập chúng ở bên ngoài.

“Phải công nhận là dân Wind Gap giỏi buôn chuyện hơn bất cứ ai khác”, Camille nhận xét khi trở về quê nhà.

Tất nhiên, sự trở lại của cô cũng chẳng được hoan nghênh. Những bài báo cô viết về vụ án khiến người dân ở đây phẫn nộ. Một số lời đồn đại bắt đầu được lan truyền. Thay vì đứng ra bảo vệ và an ủi, họ biến thân nhân của nạn nhân trở thành những nghi can số một.

Bố và anh trai của hai cô gái đã chết vô tình làm mũi rìu của dư luận lẫn cảnh sát mà đại diện tiêu biểu là cảnh sát trưởng Bill Vickery (Matt Craven). Thay vì tỏ ra hữu dụng trong công tác điều tra, ta thấy nhân vật này chỉ lảng vảng sửa chữa biển báo trên phố hoặc lui tới nhà Crellin để “nói xấu” Adora về hai cô con gái của bà.

Hai vợ chồng Adora Crellin và Alan Crellin trong "Sharp Objects"
Hai vợ chồng Adora Crellin và Alan Crellin trong “Sharp Objects”

Đỉnh điểm của sự hào nhoáng và “có vấn đề” ở Wind Gap chính là ngày Calhoun – một lễ hội đặc biệt được tổ chức hàng năm ở đây.

Để tưởng niệm ngài Zeke Calhoun, người sáng lập nên Wind Gap, trường trung học đã thiết kế hẳn một vở kịch cho các học sinh của mình.

Chuyện kể rằng khi quân đồng minh đến tìm bắt Zeke trong cuộc nội chiến, vợ ông là Millie đã kiên quyết phản kháng. Kết quả, chúng “trói cô vào một cái cây và làm những thứ tồi tệ với cô”, khiến Millie mất đi đứa con đang mang trong bụng. Cảnh “cưỡng hiếp” tàn bạo ấy được tái hiện một cách hết sức bình thường trên sân khấu của Wind Gap.

Mọi người ăn diện đẹp đẽ, tụ tập xem kịch, tán dóc và rượu chè trong sự phấn khích của Emma khi được vào vai chính Millie.

Đội ngũ sản xuất tên tuổi

Đứng sau thành công của Sharp Objects chính là đạo diễn người Canada Jean-Marc Vallée. Kể từ khi Dallas Buyers Club (2013) gây được tiếng vang, tên tuổi của ông phất lên như diều gặp gió và tiếp tục lấn sân sang màn ảnh nhỏ với Big Little Lies – bom tấn truyền hình của HBO trong năm 2017.

Giữa hai tác phẩm truyền hình do Vallée đạo diễn có nhiều điểm tương đồng đến lạ: cả hai đều xảy ra ở những địa điểm tưởng chừng yên bình, bắt đầu bằng các vụ án mạng, sau đó hé lộ bí mật của những người phụ nữ nơi đây.

Tám tập phim Sharp Objects tiếp tục cho thấy sự chín muồi trong phong cách đạo diễn của Jean-Marc Vallée, đặc biệt là ở phần biên tập trau chuốt với âm nhạc được chắt lọc kỹ càng để tạo hiệu ứng cao. Không chỉ liên tục “hack não” người xem bằng những đoạn hồi tưởng đan xen giữa thật vào ảo, quá khứ và hiện tại, Vallée còn cố tình rải đều các “manh mối” về đường dây câu truyện xuyên suốt bộ phim.

Đạo diễn Jean-Marc Vallée (trái) là một trong những nhân tố làm nên thành công của "Sharp Objects".
Đạo diễn Jean-Marc Vallée (trái) là một trong những nhân tố làm nên thành công của “Sharp Objects”.

Giống như những vết sẹo trên người của Camille, đó là những cái có nghĩa xuất hiện thoáng qua trên màn ảnh (một tấm áp phích quảng cáo trên tường, một biển báo giao thông chỉ đường) hoặc đập vào mắt khán giả một cách đầy dụng ý, đòi hỏi sự tập trung cao độ khi xem phim.

Ngoài ra, không thể không nhắc đến diễn xuất tuyệt vời của dàn diễn viên chính, nhất là Amy Adams. Có thể nói, sau nhiều lần bị giải Oscar hắt hủi (năm lần được đề cử nhưng chưa một lần thắng giải) thì Amy Adams đã hạ quyết tâm rinh một giải Emmy về bộ sưu tập của mình. Để hóa thân thành một nhân vật có nội tâm phức tạp như Camille Preaker, cô đã phải tăng cân rất nhiều và trải qua quá trình hóa trang dài ba tiếng trước khi quay.

Hai nhân vật của nữ diễn viên gạo cội Patricia Clarkson (vai Adora) và gương mặt mới từ Úc Eliza Scanlen (vai Amma) cũng góp phần tạo nên sức nặng cho bộ phim. Đặc biệt, Eliza Scanlen (sinh năm 1999) hứa hẹn sẽ là một cái tên đầy tiềm năng trong tương lai ở Hollywood.

Ứng cử viên sáng giá của Emmy 2019

Phải mất 12 năm để Sharp Objects đến được với người yêu phim. Tác giả Gillian Flynn đã từng từ chối rất nhiều lời đề nghị khác trước khi gật đầu cùng HBO sản xuất dự án này.

Chắp bút cho phần kịch bản của bộ phim là nữ biên kịch Marti Noxon – người từng viết kịch bản cho bộ phim truyền hình Buffy the Vampire Slayer (Tạm dịch: Buffy Khắc tinh của ma cà rồng) nổi tiếng ở thập niên 90. Thay vì cố gắng xây dựng một tác phẩm hình sự điều tra phá án theo kiểu thông thường, đội ngũ sản xuất đã biến bộ phim trở thành một “case study” (trường hợp điển hình) về tâm lý học.

Một nhân vật chỉ xuất hiện thoáng qua nhưng để lại ấn tượng sâu sắc trong phim là cô bệnh nhân trẻ tuổi cùng phòng của Camille – một hình ảnh phản chiếu của chính cô cũng là còi nổ báo hiệu cho những vấn nạn về tâm lý của thế hệ trẻ hiện nay.

"Sharp Objects" chắc chắn sẽ là một trong những đại diện xuất sắc của Emmy 2019.
“Sharp Objects” chắc chắn sẽ là một trong những đại diện xuất sắc của Emmy 2019.

Dù thuộc thể loại mini series (phim truyền hình ngắn) nhưng Sharp Objects không dễ xem và hơi kén khán giả. Cách xử lý nhịp phim cực kỳ chậm theo phong cách “đun chậm” (slow-burn) của đạo diễn Jean-Marc Vallée có thể sẽ đánh gục những người thiếu kiên nhẫn.

Tuy nhiên, đây là một tác phẩm không nên bỏ qua nếu bạn yêu thích dòng phim thriller, phim về tâm lý học và đặc biệt là tâm lý phụ nữ. Ngoài ra, bộ phim còn là một “lát cắt cuộc sống” (slice of life) về những rạn vỡ trong xã hội của người Mỹ da trắng đương đại. Mà đã là “cắt” thì chắc chắn sẽ đau, không ít thì nhiều.


Đánh giá: **** (4/5)


Thông tin bên lề:

  • Sharp Objects đánh dấu sự tái hợp sau mười năm của Amy Adams và Chris Messina từ Julie & Julia (2009).
  • Bộ phim có một “end credit” ở cuối tập tám thay cho lời giải thích về cái kết của đội ngũ sản xuất.
  • Hai vợ chồng Adora Crellin và Alan Crellin. Vai diễn Adora do nữ diễn viên gạo cội Patricia Clarkson đóng. Bà từng thắng giải Emmy cho vai diễn trong phim “Six Feet Under”.


'Burning' của Lee Chang Dong - Một thế hệ trẻ Hàn Quốc lạc lối
/

‘Burning’ của Lee Chang Dong – Một thế hệ trẻ Hàn Quốc lạc lối

Burning là bộ phim đánh dấu sự trở lại của đạo diễn Hàn Quốc Lee Chang-dong sau gần 8 năm vắng bóng. Đây có thể xem là tác phẩm chuyển thể tiểu thuyết Haruki Murakami gần ở mức hoàn chỉnh nhất, tính đến hiện tại.


Tác phẩm điện ảnh của một nhà văn

Chuyển thể một tác phẩm của Haruki Murakami lên màn ảnh rộng không phải là chuyện dễ dàng, ngay cả đối với một người từng thắng giải kịch bản xuất sắc nhất tại LHP Cannes 2010 như Lee Chang-dong (với Poetry). Nhưng cũng khó có thể phủ định sức hấp dẫn toát ra từ những câu chuyện mang đầy màu sắc kỳ bí của nhà văn đương đại nổi tiếng Nhật Bản. Hai bộ phim dài chuyển thể trước đó – Tony Takitani (2004) và Norwegian Wood (2010) – dù thành công hay thất bại cũng đều là những tác phẩm đáng nhớ đối với công chúng yêu điện ảnh. Có lẽ vì vậy mà Lee Chang-dong đã quyết định chọn một truyện ngắn của Murakami để thực hiện Burning (Thiêu đốt), bộ phim đánh dấu sự trở lại của ông sau gần 8 năm vắng bóng.

Nếu phải gói gọn nội dung truyện ngắn của Murakami trong một vài con chữ, thì: nàng trở về từ Châu Phi, giới thiệu cho anh gã người yêu mới quen ở ngoại quốc. Một hôm khi nàng đã say bí tỉ, gã tâm sự với anh về chuyện đốt nhà kho, việc thi thoảng gã vẫn làm khi có cơ hội. Hàng ngày, anh chạy quanh các nhà kho gần nhà để xem thử có cái nào bị đốt chưa nhưng không hề có. Barn Burning (Đốt nhà kho) – nhan đề của câu truyện như một ẩn số không lời giải đã ám ảnh nhân vật chính cả một cuộc đời cũng như những độc giả yêu mến Murakami suốt hơn ba mươi năm qua, kể từ lần đầu ra mắt vào năm 1983.

Burning đánh dấu sự trở lại của Lee Chang Dong sau gần 8 năm vắng bóng.
Burning đánh dấu sự trở lại của Lee Chang Dong sau gần 8 năm vắng bóng.

Bản thân cũng là một tiểu thuyết gia, Lee Chang-dong đã thể hiện sự tôn trọng đồng nghiệp bằng cách trung thành với nguyên tác gần như tuyệt đối. Khoảng 2/3 thời lượng của bộ phim bám sát những gì mà nhà văn mô tả. Các tình tiết nổi bật trong truyện được giữ nguyên: nữ chính theo học kịch câm, nam chính thích đọc William Faulkner. Một vài câu thoại “đinh” được bê nguyên si từ văn học vào điện ảnh: “Đừng có nghĩ ở đây có quýt, mà phải quên rằng ở đây không có quýt!”. Thậm chí, âm nhạc của Miles Davis cũng bất ngờ vang lên ở giữa phim, thiết lập một không khí “sặc mùi” Murakami. Tất nhiên, có một số thay đổi lẫn sáng tạo riêng của Lee Chang-dong (nhà kho được thay bằng nhà kính nhựa cho phù hợp với bối cảnh Hàn Quốc), nhưng không hề đánh mất cái hồn của tác phẩm gốc mà càng khiến cho thế giới quan của Murakami hiện lên sinh động và rõ nét hơn.

Các nhân vật hiện lên sống động từ trang sách

Ba nhân vật vô danh trong truyện khi bước chân vào bộ phim của đạo diễn Lee đã đươc trao cho tên tuổi lẫn số phận rõ ràng. Có điều, ông cùng đồng biên kịch Oh Jung-mi (vốn cũng là một nữ đạo diễn trẻ) đã cố tình hoán đổi độ tuổi của hai nhân vật nam chính cho nhau. Người kể chuyện 31 đã lập gia đình trong sách trở thành Jong-su (Yoo Ah-in), một thanh niên trẻ tuổi còn độc thân, và gã người yêu “nửa sau của tuổi đôi mươi” thì trở thành Ben (Steven Yeun), người đàn ông giàu có lớn hơn Jong-su một vài tuổi. Sự hoán đổi có chủ đích này phần nào khiến cho câu truyện dưới góc nhìn của Lee Chang-dong trở nên hợp lý hơn, đồng thời khắc họa rõ nét sự tương phản giữa hai nhân vật cách biệt quá xa nhau về tầng lớp.

Điểm đáng tiếc là nhân vật chính Jong-su được xây dựng một cách hơi quá đà: ngoại hình luộm thuộm, ánh mắt đờ đẫn, đôi môi hững hờ. Jong-su dưới sự thể hiện của Yoo Ah-in – một trong những diễn viên trẻ xuất sắc nhất của điện ảnh Hàn – có một chút biến thái xen lẫn điên loạn của những gã tâm thần thường có mặt trong dòng phim tội phạm Mỹ. Nhân vật này luôn xuất hiện với một dáng vẻ tăm tối so với hai người còn lại trong bộ ba. Thử đi sâu một chút về gia cảnh của gã: mẹ bỏ nhà đi biệt tích hơn mười mấy năm, chị gái được nhắc đến nhưng không bao giờ xuất hiện, bố thì đang vướng phải một vụ kiện tụng vì bạo lực, còn bị người ta gọi là “kẻ điên”. Cái nền ấy được Lee Chang-dong sử dụng như là nguyên nhân cho những bất ổn về mặt tâm lý của Jong-su. Một lời giải thích khá hợp lý nhưng cũ kỹ và thiếu đột phá. Đạo diễn bày biện khá nhiều tình tiết dành cho Jong-su, khiến số phận nhân vật không tránh khỏi những sắp đặt lộ liễu: không sớm cũng chẳng muộn, người mẹ bặt vô âm tín của anh đột ngột trở về thăm con trai, cốt chỉ để xin tiền.

Review phim Hàn Quốc Thiêu Đốt (Burning)

Trong khi đó, Ben được mô tả hoàn toàn trái ngược: ngoại hình chải chuốt, chạy xe Porsche bóng loáng, sống trong một căn hộ cao cấp ở khu Gangnam đắt đỏ. Phần nào đó, Ben chính là hình ảnh ở thì tương lai mà Jong-su không bao giờ với tới được. “Làm sao mới có thể sống như anh ta ở độ tuổi đó”, Jong-su thốt lên với cô bạn gái. Không chỉ thua thiệt về tuổi tác lẫn gia cảnh, mà kịch bản của Lee Chang-dong luôn cố tình đặt Jong-su ở vị thế thấp kém hơn: trong một cảnh, Jong-su đứng ở dưới lề đường nhìn về phía Ben đang ở trên cao ốc. Nhưng gã không nhìn Ben với sự ngưỡng vọng, mà đó là một cái nhìn đầy nghi hoặc. Một người gần như hoàn hảo về mọi mặt như Ben (đến những chiếc khăn trong tủ cũng được xếp ngay ngắn đúng theo tiêu chuẩn của một khách sạn năm sao) càng khiến ta nghi ngại về những gì hắn ẩn dấu bên trong (giọng cười của hắn còn đáng sợ hơn cả nhạc nền trong phim).

Xung đột giữa Jong-su và Ben không thể nào tồn tại nếu thiếu vắng Hae-mi (Jeon Jong-seo), cô bạn gái học kịch câm thích chơi trò “lột vỏ quýt” ở trong truyện. Nhân vật này chỉ xuất hiện thoáng qua, được xây dựng theo hình mẫu của một femme fatale (người phụ nữ bí ẩn) hơn là một cô gái có câu truyện đầy đặn. Giống như bộ môn kịch câm mà cô đang theo đuổi, Hae-mi đã mất đi tiếng nói nội tâm của mình. Ngay cả vẻ đẹp bề ngoài của cô cũng chẳng còn nguyên bản: “tôi phẫu thuật thẩm mỹ rồi”, cô thú nhận ngay từ đầu phim. Tính cách của Hae-mi chỉ được thuật lại một cách loáng thoáng và thiếu chắc chắn qua lời của những người khác: “Nó hay thích bịa chuyện, nói như thật vậy”, chị gái cô nhận xét. Nếu xem nhân vật Ben là một chàng đại gia Gatsby kiểu mới (The Great Gatsby) thì Hae-mi đích thị là hiện thân của nàng Marylou thời hiện đại (On The Road), đầy nổi loạn và lạc lối: sau khi hút cần sa, nàng thản nhiên khỏa thân khiêu vũ giữa trời chiều, trên nền nhạc trầm buồn của Miles Davis.

Burning Review - Sơn Phuoc 01

Là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ đạo diễn Hàn Quốc nổi danh từ nửa cuối thập niên 90, Lee Chang-dong đã sớm tạo được tiếng vang dù số lượng phim ít ỏi. Những bộ phim của ông không “sốc não” như của Kim Ki-duk, không duyên dáng như của Hong Sang-soo, lại càng không bạo lực như của Park Chan-wook. Nhưng ở Lee Chang-dong lại có một chút cực đoan, phần nào tương đồng với Kim Ki-duk: ông chẳng chừa cho các nhân vật của mình một lối thoát. Trong “vũ trụ điện ảnh” của đạo diễn họ Lee, các nhân vật luôn bị đặt vào những tình huống đầy tuyệt vọng, để rồi họ phải tự vấn đức tin của mình: người bà bất lực nhìn cảnh sát đưa cháu mình đi (Poetry), người mẹ vô vọng tìm kiếm đứa con trai bị mất tích (Secret Sunshine) và những người tình mãi mãi mắc kẹt trong “ốc đảo” của riêng mình (Oasis). Tương tự, ta thấy nhân vật Jong-su của Burning cứ luẩn quẩn trong nỗi ám ảnh về những ngọn lửa mà mình tạo ra. Chàng trai trẻ ôm mộng làm tiểu thuyết gia ấy gần như hoàn toàn tách biệt với xã hội mà anh đang sống, hàng ngày như con tằm ẩn mình trong “tổ kén” nội tâm không một ai chia sẻ.

Một thế hệ trẻ Hàn Quốc lạc lối

Đáng ngạc nhiên, bộ ba Jong-su, Ben và Hae-mi theo Lee Chang-dong chính là đại diện của thế hệ trẻ Hàn Quốc đương đại. “Tôi muốn kể một câu chuyện về những người trẻ của thế hệ này”, ông chia sẻ. Dưới nhãn quan của vị đạo diễn xứ Hàn, thế hệ ấy chẳng khác gì “thế hệ đã mất” của F. Scott Fitzgerald hay “thế hệ beat” của Jack Kerouac dù cách biệt tận mấy thập kỷ. Có lẽ vì vậy mà ranh giới về mặt thời gian trong phim gần như đã bị xóa nhòa. Bộ phim được đặt bối cảnh ở thì hiện tại (trên phố nhan nhản áp phích quảng cáo dòng điện thoại G6 đời mới của hãng LG) nhưng được quay bởi công nghệ film 70mm, tạo cảm giác bùi ngùi hoài cổ, chẳng khác gì đang xem những bộ phim của thập niên cũ. Có lẽ, con người dù ở thế hệ nào thì cũng phải đối mặt với nỗi cô đơn. Nhưng phải chăng con người càng hiện đại thì lại càng cô đơn?

Burning Review - Sơn Phuoc 04

Gần hơn một chút, xem Burning khiến ta không khỏi nhớ đến một tuyệt tác khác của đạo diễn trứ danh xứ Đài Bắc Dương Đức Xương: A Brighter Summer Day (1991). Ngay cả cấu trúc nền của hai tác phẩm này cũng có điểm tương đồng: từ một drama (phim chính kịch) về thế hệ lạc lối dần chuyển hướng sang một câu chuyện có hơi hướm tội phạm (crime). Điểm khác nhau giữa hai bộ phim, tất nhiên là phong cách làm phim độc đáo riêng biệt. Có thể xem Burning như là một hình mẫu tuyệt vời cho phong cách làm phim “slow burn” (đun chậm). Lee Chang-dong xử lý câu chuyện bằng một một nhịp điệu chậm rãi, từ tốn xuyên suốt thời lượng hai tiếng rưỡi đồng hồ (148 phút), khéo léo kết hợp những yếu tố neo-noir (phim đen kiểu mới) xen lẫn rùng rợn (thriller), kỳ bí (mystery) để tránh sự nhàm chán. Ngay cả khi bộ phim đi đến cao trào, đạo diễn vẫn kiên quyết giữ “lò lửa” của mình ở một nhiệt độ hoàn toàn cố định, thay vì để cho nó bùng cháy mạnh mẽ.

Quyết định có của Lee Chang-dong có lẽ sẽ khiến những khán giả kiên nhẫn chờ đợi kịch tính trong phim phải thất vọng. Khoảnh khắc khi Jong-su bước chân vào thánh đường, cũng là lúc ta thực sự rời bỏ những trang sách của Murakami để bước vào thế giới của Lee Chang-dong với những hoài nghi về lòng tin: đâu là thật, đâu là ảo? 1/3 sáng tạo còn lại của bộ phim chính là câu trả lời mà đạo diễn Lee muốn dành cho dấu chấm hỏi nhà văn đặt ra. Nhưng khi đạo diễn cố gắng giải quyết bí ẩn, vốn là điểm tạo nên thành công của câu truyện, cũng là lúc ông tự đưa mình đi vào thất bại. Một thất bại mà có lẽ chính ông, lẫn những người dũng cảm chuyển thể tiểu thuyết Murakami, đã dự cảm được trước khi bắt tay vào thực hiện bộ phim.


Đánh giá: *** (3/5)


'On The Beach At Night Alone' - Nỗi buồn của "kẻ thứ ba"
/

‘On The Beach At Night Alone’ – Nỗi buồn của “kẻ thứ ba”

‘On The Beach At Night Alone’ có nội dung phần lớn từ chuyện đời của Hong Sang Soo, nhưng đặt dưới góc nhìn của người phụ nữ ông yêu.

‘On The Beach At Night Alone’ – Nỗi buồn của “kẻ thứ ba”

Những ai theo dõi Hong Sang-soo xuyên suốt sự nghiệp làm phim trải dài trong ba thập kỷ với hơn hai mươi tác phẩm lớn nhỏ khác nhau, có thể thấy rằng vị đạo diễn sinh năm 1960 này đã có nhiều bước chuyển rõ rệt về mặt kỹ thuật kể chuyện. Ông thay bi bằng hài, thay cắt cảnh bằng những cú zoom xa và gần, hoán đổi cấu trúc kịch bản (Oki’s Movie, 2010), thậm chí là xáo trộn tất cả với nhau (Hill Of Freedom, 2014). Nhắc đến Hong Sang-soo, khản giả yêu điện ảnh dễ dàng nghĩ ngay đến những bộ phim mang phong cách hài hước duyên dáng như Hahaha (2010), In Another Country (2012) hay Our Sunhi (2013). Yếu tố hài hước nhẹ nhàng gần như là món “đặc sản” không thể thiếu trong những bộ phim của Hong: có thể là một lời nói bâng quơ trên bàn nhậu, một cuộc gặp gỡ bất ngờ vô tình đẩy hai nhân vật xích lại gần nhau, hay đơn giản chỉ là một sự nhầm lẫn tai hại không đáng có.

Dù gây dựng phong cách “comedy” đặc trưng – điều khiến nhiều người vẫn thường so sánh ông như là “Woody Allen của xứ Hàn”, nhưng Hong Sang-soo lại khởi sự đạo diễn bằng thể loại chính kịch (drama) với những chủ đề rất nghiêm túc. Các tác phẩm đầu tay của ông – The Day A Pig Fell Into The Well (1996), Virgin Stripped Bare By Her Bachelors (2000) hay On The Occasion of Remembering The Turning Gate (2002) – đều kém hài, nhiều bi. Chẳng hạn, bộ phim trắng đen Virgin Stripped Bare By Her Bachelors (còn có tên gọi khác là Oh! Soo-jung) lột tả những mối quan hệ nhập nhằng, cay đắng, lừa lọc và thiếu chắc chắn giữa người với người, thông qua hành trình của nữ nhân vật chính Soo-jung khi cô đi đến quyết định trao trinh tiết của mình cho một người đàn ông. Tất cả cho thấy một Hong Sang-soo giai đoạn đầu với góc nhìn hết sức trần trụi và đầy gai góc về cuộc sống, hoàn toàn trái ngược với ống kính hài hước, dí dỏm giai đoạn sau này.

Trong giới đạo diễn, Hong Sang-soo còn nổi tiếng kiệm lời. Ông cực kỳ hạn chế trả lời phỏng vấn báo đài, tuyệt đối không tiết lộ về đời tư, không chia sẻ về những dự án mới mà chỉ âm thầm làm phim đều đặn mỗi năm. Kín tiếng là vậy, nhưng cánh chim đầu đàn của dòng phim độc lập Hàn Quốc vẫn không thể nào thoát khỏi lưới tình, ngay cả khi ông đã yên bề gia thất và bước sang độ tuổi ngũ tuần. Mối quan hệ giữa đạo diễn họ Hong và nữ minh tinh Kim Min-hee nảy nở kể từ lần đầu hợp tác chung trong dự án Right Now, Wrong Then (2015), sau đó nhanh chóng trở thành đề tài gây hao tốn giấy mực của báo chí, tạo nên một làn sóng tẩy chay dữ dội đối với cặp đôi tại quê nhà. Chuyện tình đầy nghi hoặc về những “đúng – sai” này cũng chính là nguồn cảm hứng mạnh mẽ để Hong Sang-soo làm nên bộ phim đẹp buồn bã mang tên On The Beach At Night Alone (Tạm dịch: Một mình giữa biển đêm). Trong phim, Kim Min-hee thủ vai chính là kẻ thứ ba chen vào cuộc hôn nhân của một vị đạo diễn đã có gia đình.

Điều đáng nói, ngoại tình hay lừa dối tình cảm không hề là chủ đề mới mẻ đối với phim của Hong Sang-soo. Trong Nobody’s Daughter Haewon (2013), nữ nhân vật chính Haewon trót đem lòng si mê một người đàn ông đã có gia đình. Hai nhân vật Oki (trong Oki’s Movie) và Sunhi (trong Our Sunhi) cũng rơi vào tình huống tương tự: mắc kẹt giữa vòng xoay tình ái (tay ba hoặc tay tư) với những người đàn ông đã có vợ. Các nhân vật nam trong phim luôn là một mảnh gương phản chiếu hình ảnh của chính Hong, khi thì là một giáo sư lớn tuổi, khi là một đạo diễn điện ảnh. Những mối tình ngang trái đó cứ lặp đi lặp lại trong các tác phẩm của Hong Sang-soo, cho đến khi chuyện phim trở thành chuyện đời thật: dù đã từng làm việc chung với rất nhiều bóng hồng nổi tiếng, nhưng đây là lần đầu tiên ông trúng phải tiếng sét ái tình với một nữ diễn viên đóng phim của mình, người kém ông gần hai con giáp.

Câu chuyện bên lề về cuộc tình Hong-Kim có ý nghĩa rất quan trọng đến sự xuất hiện đường đột của On The Beach At Night Alone trong sự nghiệp dài đồ sộ của Hong Sang-soo, bởi không khó để nhận ra bộ phim chứa đựng rất nhiều yếu tố “tự truyện”, thậm chí nhiều hơn mức thông thường. Đây không chỉ là tác phẩm mang tính cá nhân nhất của Hong từ trước đến nay, mà còn gợi nhớ đến một Hong Sang-soo thuở ban sơ với những bộ phim buồn bã thiếu vắng tiếng cười. Làm phim kể về chuyện đời mình, nhưng ở đây Hong không hề có ý định giải bày tâm sự của bản thân, mà thay vào đó ông đặt mình ở vị thế của người tình, trong tâm trạng của một kẻ thứ ba bị người đời chỉ trích. Nói cách khác, bộ phim là cơ hội để đôi nhân tình đạo diễn – diễn viên thấu hiểu lẫn nhau. Ông viết kịch bản về cô, còn cô đóng phim của ông.

Khác với những bộ phim gần đây của Hong thường không tuân theo trật tự thời gian nhất định (Hill Of Freedom; Right Now, Wrong Then), On The Beach At Night Alone có cấu trúc cực kỳ đơn giản, chia làm hai phần được đánh số thứ tự với nội dung rất rõ ràng: phần đầu diễn ra ở Đức và phần sau ở Hàn. Đây không phải là lần đầu tiên Hong Sang-soo tìm cách xê dịch nhân vật của mình ra khỏi biên giới, nhưng không như Anne của In Another Country hay Mori của Hill of Freedom đều ra nước ngoài để tìm kiếm nhân tình, thì Young-hee (Kim Min-hee) lại đang chạy trốn. Bộ phim mở màn khi cô vừa đặt chân đến Hamburg thăm bạn cũ, Jee-young (Seo Young-hwa), một người phụ nữ đứng tuổi đã ly dị chồng. Họ rải bước trên những con phố, ghé thăm một công viên, ăn tối ở nhà một cặp đôi và cùng nhau chia sẻ về chuyện tình yêu. Jee-young nói rằng cô chẳng còn “khao khát” nữa, Young-hee an ủi chị bạn nhưng tâm trạng của cô cũng chẳng khá khẩm hơn là bao. Những thước phim với tông màu xám nhạt cho thấy tiết trời Hamburg đã bắt đầu chuyển đông, còn Young-hee thì đang rúc mình vào trong nỗi cô đơn giá lạnh. Trót yêu một người đã có gia đình, cô đang chờ đợi, nhưng bản thân cũng không chắc liệu ông sẽ đến tìm cô hay chăng.

Đáng buồn, người mà Young-hee trông ngóng không hề xuất hiện. Nếu như trong tất cả những bộ phim trước của Hong luôn có sự đồng hành giữa hai nhân vật nam và nữ, thì lần này Young-hee hoàn toàn cô độc trên hành trình chạy trốn của mình. “Một mình”, đúng như nhan đề của bộ phim đã gợi ý. Phong cách làm phim của Hong Sang-soo đơn giản về kỹ thuật bao nhiêu, thì lại phức tạp về cảm xúc bấy nhiêu. Thiếu vắng người yêu bên cạnh, Young-hee hoàn toàn trơ trọi trong trận chiến nội tâm của mình. Xuyên suốt bộ phim, ta thấy cô trải qua rất nhiều cung bậc: nhớ nhung (họa hình người yêu trên cát), buồn bã (ngồi khóc trong rạp chiếu phim); giận dữ (quát tháo trước mặt người khác), hối lỗi (quỳ gối tạ tội trước cầu), và tất nhiên là cô đơn (nằm nghe sóng biển vỗ về). Young-hee tìm đến “thành phố tốt nhất để sống trên thế giới” – theo lời giới thiệu của Jee-young – nhưng làm sao cô sống được, một khi thiếu vắng tình yêu?

Phần thứ hai của bộ phim đưa người xem về lại Hàn Quốc với những cuộc hội thoại đậm chất Hong Sang-soo khi luôn thấp thoáng hình ảnh chai soju trên bàn nhậu. Đối với thủ pháp kể chuyện tối giản đặc trưng trong phim của Hong, thì lời thoại đóng một vai trò cực kỳ quan trọng. Qua lời chuyện trò của các nhân vật, người xem biết được thêm nhiều thông tin hơn về Young-hee. Bản thân cô cũng là một nữ diễn viên nổi tiếng, nhưng lại quyết định rời xa ánh hào quang sau khi yêu vị đạo diễn lớn tuổi đã có gia đình. Đánh mất niềm tin ở đàn ông, Young-hee chỉ muốn tựa lòng vào những người phụ nữ bên cạnh mình. Cô nằng nặc đòi Jee-young cho mình ở chung, sau đó lại hôn một người bạn nữ ở Hàn (do Song Seon-mi thủ vai). Nhưng dù là nơi đất khách hay quê nhà, cô cũng không thể nào hòa hợp được với không khí ở xung quanh.

Có một kỹ thuật thường được sử dụng liên tục trong những bộ phim gần đây của Hong Sang-soo: mộng cảnh (dream sequence). Những thước phim của ông thường xen lẫn yếu tố thực và ảo, đôi lúc không có một ranh giới rạch ròi để phân định. Phần đầu của bộ phim kết thúc khi Young-hee thấy mình bị một người đàn ông bắt cóc, đến cuối phim cô lại mơ thấy mình gặp lại người tình cũ, để rồi tỉnh dậy trong sự bẽ bàng. Trên hành trình đi vào nội tâm của Young-hee, ta thấy cô nâng niu một bông hoa ven đường, rồi lại thả hồn vào giữa tiếng sóng biển khơi, như thể muốn quên đi thực tại đầy buồn bã. Dù là trong mơ hay ngoài đời, Young-hee cũng không dấu được nỗi buồn chán và thất vọng của mình.

On the beach at night alone không chỉ là một tác phẩm quan trọng trong sự nghiệp của Hong Sang-soo, mà còn cho thấy một Kim Min-hee đang ở thời kỳ đỉnh cao của diễn xuất. Nữ diễn viên xinh đẹp này từng bị gắn mác “bình hoa di động” khi khởi nghiệp ở tuổi đôi mươi với nghề người mẫu. Tuy nhiên, cô khiến ta phải rút lại lời nhận xét đó với hai vai diễn có thể nói là để đời trong thời gian gần đây: vai Young-hee trong On The Beach At Night và vai tiểu thư Hideko trong The Handmaiden (Park Chan-wook, 2016). Một bên sử dụng kỹ thuật thượng thừa, còn một bên chan chứa xúc cảm cá nhân. Kim Min-hee trong phim của Park Chan-wook dữ dội bao nhiêu, thì trong phim của Hong Sang-soo lại mềm yếu bấy nhiêu. Cô không diễn, mà chỉ tái hiện chính mình trước ống kính, một người phụ nữ chất chứa quá nhiều nỗi niềm trong ánh mắt*.

Những bộ phim của Hong Sang-soo lúc nào cũng cho ta cảm giác chuyến choáng men say, tựa như đang thưởng thức một chai soju, dù mùi vị là như nhau, nhưng một khi đã say làm sao có thể biết được điều gì tiếp theo sẽ xảy đến. On the beach at night alone có thể thiếu vắng tiếng cười, nhưng không hề mất đi cái vị cay dịu nhẹ xen lẫn chua chát trong phim của Hong. Bộ phim là một trong ba tác phẩm được Hong Sang-soo giới thiệu trong năm 2017, bên cạnh The Day AfterClaire’s Camera (đều được khởi chiếu tại Cannes). Nói vậy để thấy được sức bền cũng như năng lượng làm phim của bậc thầy điện ảnh Hàn Quốc này vẫn còn dào dạt lắm lắm.

* Đọc thêm các bài viết về Hong Sang-soo ở đây.


Đánh giá: **** (4/5)


Chú thích:
* Vai diễn đã đem lại cho Kim Min-hee giải Gấu bạc (dành cho nữ diễn viên xuất sắc nhất) tại LHP Berlin năm 2017.

/

‘The Killing Of A Sacred Deer’ – Bi kịch Hy Lạp đương đại

Quả không ngoa khi nói Yorgos Lanthimos là đại diện hàng đầu của làn sóng điện ảnh kỳ dị Hy Lạp (Greek weird wave). Nhân vật kỳ dị, cốt truyện kì dị, tình tiết kỳ dị, biến The Killing Of A Sacred Deer thành một tác phẩm điện ảnh kì dị khó quên, dựa trên câu chuyện thần thoại kinh điển Hy Lạp.

Bi kịch Hy Lạp và chủ đề báo thù

Từ bi kịch Iphigenia đến mô típ báo thù quen thuộc

Trong những cảnh quay mở màn của Iphigenia (Michael Cacoyannis, 1977), để trấn an tinh thần của binh lính Hy Lạp – những kẻ đang thất thủ trên bờ biển Aulis, rệu rã vì đói, khát và chờ đợi mà gió vẫn không thổi để thuyền có thể vượt sóng tiến lên công phá thành Troy – đức vua Agamemnon cho đoàn quân của mình đi săn cừu nhưng vô tình lại giết chết con nai linh thiêng của nữ thần săn bắn Artemis. Sự việc đã đẩy Agamemnon rơi vào một tình huống hết sức kinh khủng: ông buộc phải hiến tế con gái đầu lòng của mình, Iphigenia, nhằm xoa dịu cơn tức giận của nữ thần và đổi lại, bà sẽ đồng ý cho gió nổi lên. Thử hỏi trên cõi đời có người cha nào lại bằng lòng thực hiện cái việc ác nhơn ấy, chưa kể nàng Iphigenia xinh đẹp lại là người yêu cha nhất trong bốn đứa con? Đáng tiếc, Agamemnon không phải là một người cha hoàn hảo. Ông âm thầm lên kế hoạch giết chết con gái ruột, bất chấp sự ngăn cản và những giọt nước mắt của vợ, nữ hoàng Clytemnestra.

Cái chết của con nai thần cũng chính là khởi nguồn cho bi kịch cuộc đời nàng Iphigenia lẫn gia tộc Agamemnon sau này. Trong số những dị bản khác nhau của câu chuyện, số phận của nàng Iphigenia được thuật lại rõ ràng nhất trong vở kịch Iphigenia at Aulis (Chuyện Iphigenia ở Aulis) do nhà soạn kịch Hy Lạp cổ đại Euripides chắp bút. Bộ phim mang tên nàng Iphigenia của Cacoyannis (do ông tự viết kịch bản và đạo diễn) tuy có thay đổi một số tình tiết nhưng đến nay vẫn là phiên bản chuyển thể điện ảnh duy nhất tái hiện được nội dung lẫn cái hồn của vở kịch gốc. Phải đến tận bốn mươi năm sau, câu truyện của Iphigenia mới được quay trở lại màn ảnh rộng một lần nữa thông qua bộ phim mang tên The Killing of a Sacred Deer (Giết con nai thần) của đạo diễn người Hy Lạp Yorgos Lanthimos. Bằng nhãn quan độc đáo của mình, Lanthimos đã hoán chuyển tấn bi kịch đẫm nước mắt của Euripides sang một chủ đề rùng rợn hơn: báo thù.

Giet con nai than review - Son Phuoc 01

Nhân vật chính của bộ phim là Steven Murphy (Colin Farrell), kẻ đang có sự nghiệp thành đạt lẫn cuộc sống gia đình hạnh phúc bên vợ và hai người con. Cuộc đời của Steven bỗng chốc như con thuyền đi ngược chiều gió khi có một lời đe dọa ập đến, buộc hắn phải giết một trong số những thành viên trong gia đình mình, hoặc là tất cả đều sẽ phải chết (theo tuần tự họ sẽ bỏ ăn, bị bại liệt, sau đó chảy máu mắt, rồi cuối cùng sẽ tắt thở). Giống như đức vua Hy Lạp, Steven không có trái tim, dù gã là một bác sĩ phẫu thuật tim. Ở cảnh quay đầu tiên của bộ phim, Yorgos Lanthimos đưa ống kính xoay thẳng thẳng vào bàn mổ của Steven, chiếm trọn khung hình là một quả tim đang thoi thóp. Hình ảnh đó phần nào phản chiếu bản chất bên trong con người của Steven, rằng trái tim của hắn đang chết mòn, hoặc nó vẫn còn đập, nhưng không có tình cảm.

Nếu như Steven là phiên bản hiện đại của Agamemnon thì hiện thân của nữ thần Artemis không ai khác ngoài Martin, kẻ mang hình hài của một cậu bé 16 tuổi nhưng lại sở hữu quyền năng thánh thần. “Ông đã giết một người nhà tôi, giờ tôi sẽ giết một người nhà ông”, Martin tuyên bố ngay trước mặt Steven. Nhân vật mà Martin nhắc đến không ai khác ngoài cha ruột cậu, người đã chết cách đây 10 năm dưới bàn tay của Steven, ngay trên chính bàn mổ của hắn, cũng là con “nai thần” không hề xuất hiện dù chỉ một giây trong phim. Mạng đổi mạng, nợ máu trả bằng máu, không phải là mô típ quá mới trong những câu truyện trả thù. Thế nhưng cái cách mà Martin mà đòi mạng mới thực sự hãi hùng làm sao. Dù chỉ thể hiện qua lời nói, nhưng tất cả những gì cậu ta tuyên bố đều trở thành sự thật, như thể một lời nguyền linh ứng.

the killing of sacred deer sonphuoc sidebar

Điểm thú vị trong bộ phim của Yorgos Lanthimos chính là mối quan hệ giữa Steven và Martin được khai thác rõ ràng hơn vở kịch gốc. Ở nửa đầu của bộ phim, mối quan hệ đó chủ yếu được thuật lại thông qua những đoạn hội thoại giữa hai nhân vật. Họ xuất hiện như hai người bạn, thậm chí có phần lạ lùng hơn cả tình bạn. Họ gặp nhau trong quán ăn, trong bệnh viện, lẫn trong nhà của Steven. Gã tặng quà cho Martin – một chiếc đồng hồ – trong khi cậu bé lại muốn gã trở thành cha dượng của mình, giúp cậu chăm sóc người mẹ có vấn đề về tâm lý. So với Agamemnon, rõ ràng Steven được Martin trao cho nhiều sự lựa chọn hơn, thay vì phải đi đến “lễ hiến tế”. Thế nhưng tất cả đã thay đổi khi Martin nhận ra bản chất thật sự của Steven. Gã bắt đầu lảng tránh cậu, tìm cách loại cậu ra khỏi cuộc đời, còn chiếc đồng hồ mà cậu đang đeo thực chất cũng chỉ là giả dối. Gã đã tặng cho rất nhiều người.

Mặc dù dựa trên bi kịch Hy Lạp cổ, nhưng bộ phim của Yorgos Lanthimos lại khiến ta liên tưởng rất nhiều đến những tác phẩm của đạo diễn trứ danh người Áo Michael Haneke. Tương tự Funny Games (1997), cả bốn thành viên trong gia đình Murphy đều không hình dung được chuyện gì sẽ xảy đến với mình. Khoảnh khắc khi Martin xuất hiện trong căn nhà thực sự đã làm đảo lộn cuộn sống tưởng chừng hoàn hảo của họ. Thủ pháp báo thù của Martin lại gợi nhớ đến Caché (2005): khán giả không được tận mắt chứng kiến cách thức mà cậu bé gieo rắc nỗi kinh hoàng khi mà tất cả đều đã được đạo diễn cố tình “che dấu”. Cuối cùng, giống như The White Ribbon (2009), câu chuyện báo thù cổ xưa của Hy Lạp cũng chỉ là cái cớ để khơi gợi câu chuyện về tội ác, về bản ngã của mỗi con người, cách thức cũng như lựa chọn của họ khi đối diện với tội ác.

Có thể xem The Killing Of A Sacred Deer là tác phẩm cuối cùng hoàn thiện bộ ba “động vật” của Yorgos Lanthimos, nối tiếp “răng chó” Dogtooth (2009) và “tôm hùm” The Lobster (2015). Lần này anh đã thu hẹp thế giới rộng lớn của The Lobster để trở về với một bi kịch gia đình như Dogtooth. Báo thù không phải là một chủ đề mới mẻ, nhất là trong điện ảnh, nhưng Lanthimos vẫn tạo được sự hấp dẫn bằng phong cách làm phim riêng biệt của mình. Khác với những tác phẩm trước đó, anh đặc biệt chú tâm vào cách sử dụng ống kính máy quay để tăng hiệu ứng rùng rợn cho bộ phim. Những góc máy siêu rộng được tận dụng triệt để khiến các nhân vật trở nên nhỏ bé, lọt thỏm giữa mỗi khung hình. Cách đặt máy quay cũng đáng chú ý: khi thì chĩa từ trên xuống, khi thì hướng từ dưới lên, rồi lại lần mò theo các nhân vật như thể có một thế lực siêu nhiên đang theo dõi họ. Lồng giữa từng cảnh quay là phần âm nhạc vừa hào hùng vừa réo rắt đến đáng sợ, thiết lập một không khí căng thẳng, khó đoán định.

Giet con nai than review - Son Phuoc 04

Điểm nhấn từ diễn xuất của Barry Keoghan

Ngoài ra, một điểm khác biệt trong phần kịch bản mà Yorgos Lanthimos chắp bút chính là nhân vật. Các nhân vật của anh từ chính tới phụ đều được xây dựng với những tính cách và đặc điểm hết sức kỳ quái, đôi lúc bệnh hoạn. Vợ của Steven, Anna Murphy (Nicole Kidman), cũng là bác sĩ, được mô tả là người có tư thế làm tình lạ lùng: nằm vật ra như một cái xác không hồn trên bàn mổ. Trong khi mẹ của Martin (Alicia Silverstone) lại đặc biệt để tâm đến bàn tay của đàn ông đến mức ám ảnh. Thế nhưng, nhân vật đáng sợ nhất trong phim lại chính là Martin, thông qua hóa thân xuất sắc của gương mặt mới nổi Barry Keoghan. Tuy không sở hữu một vẻ điển trai theo tiêu chuẩn thông thường, nhưng nam diễn viên người Ireland đã hoàn toàn làm lu mờ hai ngôi sao lớn diễn chung là Colin Farrell lẫn Nicole Kidman. Nhân vật Martin của Keoghan thực sự là vai diễn “cân” cả bộ phim, tương tự như vai Kevin của Ezra Miller trong We need to talk about Kevin (2011). Không ai có thể đoán định được cậu đang suy nghĩ gì ở trong đầu khi mà tất cả đều được “ngụy trang” bởi một gương mặt vô cảm.

Khi Iphigenia kết thúc, những binh lính Hy Lạp rời Aulis để tiến sang Troy, tiếp tục gieo rắc bi kịch ở một nơi chốn khác. Tương tự, câu chuyện “mạng đổi mạng” giữa Steven và Martin cũng chưa hề kết thúc. Trong cảnh quay cuối cùng của bộ phim, cô con gái lớn nhà Murphy rót đầy tương ớt lên một dĩa khoai tây chiên rồi ngồi ăn một cách ngấu nghiến, trước sự chứng kiến của Martin. Đó là món ăn mà cậu thích nhất và luôn dành lại cuối cùng. Ánh mắt đầy giận dữ của cô bé khi nhìn về kẻ đã đe dọa bố mình như thay thế cho một lời tuyên bố: tội ác này ắt sẽ còn lặp lại, như một vòng luân hồi.


Đánh giá: ***½ (3.5/5)


Tham khảo: The Lobster – Yorgos Lanthimos (2015)

/

‘Annihilation’ – Phim sci-fi khai thác đề tài hủy diệt

Annihilation, tác phẩm thứ hai của Alex Garland (Ex Machina) có nội dung không quá mới, nhưng vẫn đem lại cho người xem một trải nghiệm điện ảnh thú vị.

Tác phẩm sci-fi khai thác đề tài hủy diệt

Kịch bản liên tục sắp đặt nhiều điểm bất ngờ

Trong suốt thời lượng gần hai tiếng đồng hồ của Anhinilation (tạm dịch: Vùng hủy diệt), Lena (Natalie Portman) – nhân vật chính của bộ phim – liên tục đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Chồng cô, Kane (Oscar Issac), đường đột xuất hiện trong căn phòng ngủ quen thuộc sau gần một năm mất tích. Người đàn ông ấy không đưa ra được bất kỳ một lời giải đáp nào trước những thắc mắc bấy lâu nay của vợ, ngoại trừ những câu nói lãnh cảm, vô hồn. Rất nhanh sau đó, Lena bị bắt cóc và thấy mình tỉnh dậy trong một căn cứ ngầm của quân đội. Một nữ bác sĩ tâm lý tên Ventress (Jennifer Jason Leigh) giải thích cho cô biết tình hình hiện tại: Kane đang hôn mê, anh là người duy nhất sống sót trở về trong một kế hoạch tuyệt mật của chính phủ. Tiếp theo, Lena tình cờ kết bạn với ba cô gái khác, đều là những chuyên gia ở những lĩnh vực khác nhau. Cùng với Ventress, họ tạo thành một đội gồm năm người đi tìm lời giải cho sự trở về của Kane, cũng như số phận của những người bị mất tích còn lại.

Bất ngờ cũng chính là điểm tạo nên sự hấp dẫn cho Annihilation. Bộ phim thuộc thể loại khoa học viễn tưởng (sci-fi), lồng ghép yếu tố phiêu lưu pha chút hành động (action), với nhiều diễn biến liên tục xảy ra. Sự kiện trong phim bắt đầu từ ba năm trước thời điểm Kane trở về, khi một thiên thạch rơi xuống trái đất đúng vào tâm điểm là một ngọn hải đăng nằm ở miền Nam nước Mỹ. Thay vì tiêu hủy tất cả, nó lại phát triển từ từ, tạo thành một vùng bí ẩn lan rộng xung quanh ngọn hải đăng, được bao phủ bởi một tấm màn bảo vệ trông như lớp váng dầu trộn lẫn cùng bong bóng xà phòng. Người ta đặt tên cho nó là The Shimmer (tạm dịch: vùng mờ ảo). Theo thời gian, lớp màn bao phủ ấy cứ lớn dần mà không gì có thể ngăn cản được. Không một ai bước vào đó quay trở lại, ngoại trừ Kane.

Annihitation review sonphuoc

Một bước lùi của Alex Garland

Đạo diễn của bộ phim, Alex Garland (1970), có một niềm đam mê đặc biệt với thể loại khoa học viễn tưởng. Anh từng là biên kịch của nhiều bộ phim thuộc thể loại này – 28 Days Later (2002), Sunshine (2007), Never Let Me Go (2010) – cho đến khi chuyển sang ghế đạo diễn và gây được tiếng vang lớn với bộ phim đầu tay Ex Machina (2015) do chính anh viết kịch bản gốc. Ở lần đạo diễn thứ hai, Garland quyết định chuyển thể Anhinilation dựa trên cuốn tiểu thuyết cùng tên của Jeff VanderMeer, vốn là tập đầu tiên và cũng là hay nhất trong bộ ba tác phẩm mang tên Southern Reach (cũng là tên gọi của căn cứ bí mật trong phim). Với kinh nghiệm viết kịch bản gần hai mươi năm, anh đã thay đổi khá nhiều chi tiết so với tác phẩm gốc theo hướng dễ tiếp cận hơn đối với khán giả phổ thông, nhưng vẫn không tránh khỏi sự chông chênh.

So với Ex Machina, Anhinilation kém hoàn hảo hơn về nhiều mặt, nhất là cách đặt vấn đề không mới. Một trong những cảnh mở màn của bộ phim là khi Lena thuyết trình về sự phân chia của các tế bào khối u, một cách mở bài gần giống với bài giảng về ngôn ngữ học của Louise (Amy Adams) trong Arrival (Denis Villeneuve, 2016). Cả Louise lẫn Lena, hai nhân vật nữ chính trong phim, đều là những nhà khoa học, đều chịu nỗi đau mất đi người thân và cùng rơi vào một tình huống tương tự: phải đối mặt với người ngoài hành tinh, dù tình nguyện hay bị ép buộc. Cách Garland dẫn dắt câu chuyện cũng có nhiều điểm tương đồng với tác phẩm của Villeneuve. Để tăng tính bi kịch và chiều sâu cho bộ phim, anh liên tục sử dụng những đoạn hồi tưởng đan xen, cho thấy Lena cũng có một đời sống nội tâm khá phức tạp. Một mặt, cô yêu chồng và nhớ nhung anh da diết. Mặt khác, cô ân ái với một người đàn ông đã có vợ chỉ để thỏa mãn dục vọng bản thân. Điểm khác biệt giữa hai bộ phim, đó là Louise biết rõ và có thể hiểu được thứ mà mình đang tiếp cận, trong khi Lena thì ngược lại. Số phận của cô ở phía trước là hoàn toàn vô định.

Ngoài ra, The Shimmer phần nào gợi nhớ đến The Zone của Andrei Tarkovsky trong bộ phim kinh điển Stalker (1979) – đều là những vùng bí ẩn do người ngoài hành tinh tạo ra – nhưng giàu màu sắc và sống động hơn. Khoảnh khắc khi Lena cùng những người bạn đồng hành của mình đặt chân vào vùng đất ấy, cũng là lúc “ngòi nổ” của bộ phim bắt đầu. Để luồn lách câu chuyện ra khỏi mô típ “đi vào rừng” quen thuộc, Garland đã dụng công tái lập một thế giới vô cùng đẹp đẽ và tàn bạo, cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. The Shimmer được mô tả như một khu rừng kỳ ảo mang hơi hướm vườn địa đàng: ngập tràn hoa và dây leo chằng chịt, những cánh đồng cỏ rì rào trong gió với các sinh vật vô cùng kỳ lạ, khác hẳn thế giới bên ngoài. Thế nhưng, ẩn sau vùng đất không người ấy lại là những mối nguy hiểm mà không ai có thể lường trước được. Một con cá sấu bị đột biến gen với những cái răng nhọn hoắc không biết từ đâu nhào ra, cũng bất ngờ như cái cách mà Kane đột ngột trở về nhà. Xác của những người bị mất tích dính chặt trên một bức tường, thối rữa và biến dạng, như thể đã bị thứ gì đó nuốt chửng và ăn mòn.

Annihitation review sonphuoc 2

Cái kết cứu vãn tình hình

Cũng như Denis Villeneuve, Garland cố tình cài cắm nhiều tình tiết “ẩn” vào phần kịch bản để biến Annihilation trở thành một tác phẩm viễn tưởng thông minh. Từ những hồi ức của Lena, vết sẹo trên tay của một thành viên trong nhóm, những cái cây mọc thành hình người, cho đến bài hát Hopeless Hoping (Crosby, Stills, & Nash)* ở đầu phim, đều có ý nghĩa “gợi mở” đến nội dung mà Garland muốn mang lại. Như lời một nhân vật trong phim, có hai giả thuyết cho những gì xảy ra trong The Shimmer: hoặc là có thứ gì đó ở bên trong đã giết họ, hoặc là họ phát điên và tự giết lẫn nhau. Tương tự, mỗi người xem hẳn cũng sẽ có những giả thuyết đặt ra dành cho riêng mình, xoay quanh nhan đề “sự hủy diệt”. Đạo diễn muốn khán giả của mình cũng hoang mang không biết chuyện gì đã diễn ra, như nét mặt của Natalie Portman xuyên suốt bộ phim. Nhưng cũng vì ôm đồm quá nhiều chi tiết, nên Garland không giữ được nhịp điệu cuốn hút đáng phải có ở một bộ phim phiêu lưu – viễn tưởng, khiến cho những gì anh sắp đặt chỉ ở mức “trứng phục sinh” (easter egg) chứ không thực sự tạo ấn tượng mạnh.

Bên cạnh đó, không khó để nhận ra rất nhiều lỗ hổng trong phần nội dung của phim. Điểm trừ lớn nhất, đó là việc Alex Garland phần nào tiết lộ kết cục của Lena ngay từ đầu, khiến cho độ hấp dẫn của bộ phim giảm đi một nửa. Những đoạn hồi tưởng về mặt tâm lý của Lena không “đậm đà” như cách Denis Villeneuve từng sử dụng, thậm chí còn làm cho mạch phim bị gián đoạn. Các thành viên trong nhóm ăn vận như bước ra từ một phiên bản nghiêm túc hơn của Ghostbusters, nhưng vẫn có thể khiến ta phì cười vì không hề có mặt nạ hay găng tay bảo vệ. Con quái vật, vốn được mô tả là có khả năng nhái giọng người, lại không thể tấn công ngay cả khi đối phương đang thở hổn hển ở trước mặt. Hay là thông điệp đề cao nữ quyền – một trào lưu đang nổi ở Hollywood – khá lộ liễu: phải chăng cánh đàn ông đã trở nên vô dụng đến mức quân đội Mỹ phải thành lập một biệt đội toàn phụ nữ?

Dù vay mượn khá nhiều chất liệu từ những tác phẩm cùng thể loại, nhưng Annihilation vẫn chứa đựng những khoảnh khắc rất “nguyên bản”, mang dấu ấn riêng. Bộ phim bùng nổ tại cao trao ở nửa tiếng cuối cùng, khi Lena tận mắt chứng kiến những gì ẩn sâu bên trong ngọn hải đăng. Một không khí ngột ngạt đến khó thở với rất ít lời thoại, được tăng lên bởi phần nhạc nền đầy ám ảnh, gợi nhớ đến cách mà Mica Levi từng làm cho Under The Skin (2013). Ngoài phần kịch bản chi tiết, Alex Garland giữ được thế mạnh đặc trưng của mình trong việc tạo ra cảm giác rùng rợn (thriller) từ Ex Machina. Anh thực sự đã mang đến cho người xem một trải nghiệm điện ảnh thú vị và đầy khác biệt, cả về thị giác lẫn thính giác.


Đánh giá: **½ (2.5/5)


* Tham khảo:
– Under The Skin (2013)
– Phân tích về mục đích sử dụng bài hát Hopeless Hopingđây (chú ý có tiết lộ nội dung phim).

/

‘Nocturnal Animals’ của Tom Ford – Ám ảnh ‘thú ăn đêm’

Nocturnal Animals, tác phẩm điện ảnh thứ hai gắn mác Tom Ford là câu chuyện về tình yêu và sự lừa dối, mất mát và lòng thù hận. Hơn hết, bộ phim còn đại diện cho chủ nghĩa hiện sinh khi lựa chọn chủ đề “lạc lõng trong xã hội” (social alienation).

Sự trở lại của một đạo diễn duy mỹ

Không giống như nhiều nhà làm phim khác, Tom Ford bước chân vào thế giới điện ảnh khi bản thân đã là một tên tuổi lẫy lừng. Song, cái mác nhà thiết kế thời trang danh tiếng cũng khiến ông phải hứng chịu không ít sự hoài nghi khi ra mắt bộ phim đầu tay của mình. Vì thế, thành công của A Single Man (2009) đã đem lại cho cả thế giới một cái nhìn khác hoàn toàn về Tom Ford, cũng như xóa bỏ định kiến về việc giới thời trang chuyển sang làm điện ảnh. Sự trở lại lần này của Tom Ford sau tận 7 năm vắng bóng với Nocturnal Animals (tạm dịch: Mãnh thú trong đêm) lại tiếp tục đặt ra một câu hỏi: liệu ông có đem đến cho điện ảnh điều gì mới mẻ, hay rốt cuộc cũng chỉ là một “one-hit wonder”?

Được chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết Tony and Susan (1993) của Austin Wright, Nocturnal Animals tiếp tục xoáy sâu vào những góc khuất phía sau vẻ ngoài hào nhoáng của giới thượng lưu tư bản, chủ đề mà Tom Ford đã khá thành công trong A Single Man. Nhân vật chính của bộ phim là Susan Morrow (Amy Adams), bà chủ của một phòng trưng bày nghệ thuật giàu có ở Los Angeles, người đang đứng bên bờ vực của cuộc hôn nhân sắp sửa đổ vỡ. Ở những cảnh quay đầu tiên, người xem trông thấy Susan lặng lẽ lái chiếc xế hộp tiến vào một căn biệt thự kín cổng cao tường, nơi mà hằng đêm cô vẫn phải chịu cảnh “chăn đơn gối chiếc” trong khi chồng mình thì đang ôm ấp người phụ nữ khác.

nocturnal animal sonphuoc review 2

Chuyện phim tiếp tục khi Susan nhận được bản thảo một cuốn tiểu thuyết mang tên Nocturnal Animals được viết bởi Edward Sheffield (Jake Gyllenhaal), người chồng trước đó và cũng là mối tình đầu của cô. Không sớm cũng chẳng muộn, món quà bất ngờ sau 19 năm không gặp lại trở thành đòn trời giáng xuống cuộc đời vốn đã lắm chông chênh của Susan. Bị ám ảnh bởi câu chuyện của Edward, cô mất ăn mất ngủ hàng đêm liền. Lật mở từng trang sách, những ký ức về cuộc hôn nhân tan vỡ cũng lũ lượt quay trở lại khiến cô không khỏi có một cảm giác rằng, từng câu từng chữ trong sách là lời trách móc sâu cay mà người chồng cũ dành cho mình.

Điều bất ngờ là, những gì mà Edward viết lại không có nhiều liên hệ trực tiếp đến cuộc tình giữa anh và Susan. Trái lại, câu chuyện của cuốn tiểu thuyết đưa người xem đến với vùng West Texas hoang vu giữa màn đêm thinh lặng. Ở đó, Tony Hastings (Jake Gyllenhaal) đang chở người vợ xinh đẹp (Isla Fisher) và cô con gái tuổi vị thành niên đi trên một quốc lộ vắng vẻ trong đêm tối. Hành trình của gia đình anh đã không được suôn sẻ như ý muốn khi họ vô tình chạm mặt một nhóm côn đồ gồm ba thành viên, đứng đầu là Ray Marcus (Aaron Taylor-Johnson). Sự nhu nhược và yếu đuối của Tony đã đẩy vợ và con gái anh vào tay những kẻ lạ mặt trong đêm đen. Phần còn lại của cuốn sách tiếp nối sự kiện ấy, dõi theo hành trình đi tìm công lý của Tony với sự giúp sức của thám tử Bobby Andes (Michael Shannon).

nocturnal animal sonphuoc review 2

So với cuốn tiểu thuyết gốc, phần kịch bản do chính Tom Ford chắp bút đã gọt giũa khá nhiều tình tiết. Vì thế nên dù bộ phim đi theo cấu trúc truyện trong truyện (story within story) nhưng không hề rối rắm mà rất dễ theo dõi. Thực tế, Nocturnal Animals kể lại cho người xem ba tuyến truyện cùng diễn ra song song: tuyến hiện tại về chuyện đời buồn chán của Susan Morrow, tuyến quá khứ về chuyện tình giữa cô với Edward, và tuyến giả tưởng về câu chuyện của Tony trong cuốn tiểu thuyết của Edward. Tương ứng với mỗi tuyến truyện là một chủ đề mà nam đạo diễn muốn cài cắm: sự hối tiếc (regret), sự trả thù (revenge) và tội lỗi (evil).

Phải nói rằng Tom Ford vẫn giữ được lối dẫn truyện quyến rũ của mình từ tác phẩm trước đến tác phẩm này. Ba tuyến truyện trong phim được lồng ghép với nhau nhịp nhàng thông qua những đoạn cắt cảnh hết sức uyển chuyển. Cách sắp đặt của đạo diễn cũng đầy dụng ý. Chẳng hạn như việc lựa chọn Jake Gyllenhaal cho cả hai vai diễn Edward và Tony, hay Amy Adams và Isla Fisher là hai nữ diễn viên vẫn thường xuyên bị nhầm lẫn, phần nào cho thấy những gì mà Susan tưởng tượng trong đầu khi đọc sách đều được gom nhặt từ chính những hình ảnh có thật trong đời của cô.

Có lẽ sẽ hơi dư thừa khi nhận xét phim của Tom Ford đẹp. Nhưng từ phần thiết kế sản xuất, diễn viên cho đến trang phục trong Nocturnal Animals trong đều toát lên một vẻ đẹp rất chỉnh chu. Ngay cả một nhân vật phụ xuất hiện thoáng qua như vai diễn của Jena Malone trong phim cũng được chăm chút như một tín đồ thời trang lâu năm. Giữa hai tuyến thực và ảo cũng có một sự tương phản dữ dội về mặt hình ảnh. Bối cảnh phù hoa ở Los Angeles nơi Susan sinh sống được tô vẽ bằng những mảng màu trắng, xám xanh lạnh lẽo đến vô hồn như chính sự trống rỗng bên trong cô. Ở phía đối diện là vùng West Texas hoang vu, nghèo nàn với những tông màu nóng và rực đến mức ngột ngạt, là nơi khởi nguồn của mọi tội ác.

nocturnal animal sonphuoc review 4

Đáng tiếc, Nocturnal Animals dù đẹp nhưng lại không gây được ấn tượng mạnh về mặt thị giác như những gì mà A Single Man từng thể hiện. Nói cách khác, bộ phim thiếu đi những chi tiết mang tính “signature” (dấu ấn) để người xem nhận biết đây là một tác phẩm của Tom Ford. Có vẻ như trong lần thứ hai ngồi ghế đạo diễn này, nhà thiết kế thời trang không muốn lặp lại chính mình nên đã chấp nhận “lùi một bước, tiến ba bước”. So với bộ phim đầu tay, Nocturnal Animals có phần kịch bản được xây dựng chắc chắn với tâm lý nhân vật phát triển rõ ràng và rành mạch. Tận dụng cấu trúc truyện trong truyện độc đáo, Tom Ford muốn người xem tập trung vào câu truyện giả tưởng của Tony, từ đó làm nổi bật tâm lý của Susan cũng như mối quan hệ trong quá khứ giữa cô và Edward.

Theo thời gian, những chi tiết trong cuốn tiểu thuyết tuy không liên hệ trực tiếp đến Susan nhưng lại soi rọi vào cuộc đời cô như một phép ẩn dụ khéo léo. Ban đầu hai tuyến truyện được xây dựng theo những thể loại khác nhau – phần của Susan thiên về bi kịch (drama); phần của Tony mang màu sắc phim neo-noir xen lẫn rùng rợn (thriller) – nhưng càng về sau không khí của phim gần như hòa làm một. Những ranh giới giữa thực và ảo từ màu sắc khung hình cho đến nhịp phim đều bị xóa nhòa. Đặc biệt, ở những trường đoạn cuối cùng, khi trái tim của Susan cùng chung nhịp đập với Tony, cũng là lúc cái kết trong cuốn sách Edward viết tặng Susan đã linh ứng với chính số phận mà cô đang phải gánh chịu.

nocturnal animal sonphuoc review 3

Dù sinh trưởng tại Texas, nhưng Tom Ford lại tự nhận rằng mình là một con người “yếu đuối”, “nhạy cảm”, hoàn toàn khác biệt so với rất nhiều người ở quê nhà. Chính vì vậy mà chủ đề “cô đơn”, “lạc lõng” (social alienation) thể hiện rất rõ trong tác phẩm lần này của ông. Tương tự như A Single Man, nam đạo diễn thấy được chính bản thân mình khi đọc cuốn tiểu thuyết của Austin Wright, đặc biệt là qua hai nhân vật Susan và Tony. Phần lớn thời lượng phim là khoảnh khắc Susan gậm nhấm nỗi cô độc của mình trong căn biệt thự xa hoa bằng cách đọc sách của chồng cũ. Đó cũng là những cảm giác mà Tony phải trải nghiệm sau khi đánh mất vợ và con gái.

Cảnh giới thiệu mở màn (opening credit) đầy tranh cãi của Nocturnal Animals cũng là một phép ẩn dụ mà Tom Ford muốn đặt ra: đứng nhảy múa chậm rãi giữa khung hình là những người phụ nữ lớn tuổi trần truồng với thân hình quá khổ. Theo ông, những người phụ nữ này là hình ảnh đại diện cho việc từ bỏ tất cả mọi lời đàm tiếu của xã hội để tận hưởng cuộc sống của chính mình. Có thể họ không được nhiều người xem là xinh đẹp nhưng lại luôn giữ được nụ cười hạnh phúc nở rộ trên môi – điều mà xuyên suốt bộ phim nhân vật Susan không hề có. Trái lại, Susan là tượng trưng cho sự hào nhoáng của giới thượng lưu: thành công, xinh đẹp nhưng tâm hồn lại đang chết mòn.

Chuyện gì thực sự đã xảy ra? Đây có lẽ là câu hỏi quen thuộc mà khán giả thường đặt ra sau khi xem mỗi bộ phim của David Lynch. Vẫn còn một khoảng cách rất xa để có thể đặt Tom Ford cùng tầm với những bậc tiền bối. Tuy nhiên, với những cố gắng trong tác phẩm điện ảnh thứ hai, Tom Ford đã thành công trong việc vượt qua chính mình để thực hiện một điều gì đó “to lớn hơn”, như lời ông chia sẻ.


Đánh giá: ***½ (3.5/5)


Tham khảo:
– A Single Man – Tom Ford (2009)

/

‘Elle’ – Quyền lực đàn bà trước những cám dỗ

‘Elle’ – Quyền lực đàn bà trước những cám dỗ

 

“Tôi nghĩ là mình đã bị hãm hiếp.”

Khoảnh khắc cuối cùng khi tất cả mọi sự thật trong Elle đều đã được phơi bày, Michèle LeBlanc (Isabelle Huppert) quay sang ôm lấy cậu con trai và nói: “Kết thúc rồi.” Tuy nhiên, bộ phim của đạo diễn Paul Verhoeven lại tạo cho người xem một cảm giác rất hoang mang, rằng sau những điều hỗn độn vừa xảy đến với người phụ nữ ấy, thì dường như mọi chuyện vẫn chưa thể dừng lại. Verhoeven đặt cho tác phẩm táo bạo của ông một nhan đề hết sức thanh lịch – Elle (tiếng Pháp nghĩa là “cô ấy”) – nhưng lại xây dựng một nữ nhân vật mà từ hành động đến tính cách đều khiến ta phải liên tưởng đến câu nói quen thuộc: “lòng dạ đàn bà”!

Tất cả sự kiện trong Elle bắt đầu kể từ khi quý bà Michèle LeBlanc bị một kẻ lạ mặt tấn công ngay trong nhà mình. “Tôi nghĩ là mình đã bị hãm hiếp”, bà kể lại. Đó là vào khoảng 3 giờ trưa, trong lúc Michèle đang mở cửa để cho con mèo của mình vào nhà, thì bỗng xuất hiện một gã đàn ông đeo mặt nạ, mặc bộ đồ bó sát màu đen xông tới từ phía khu vườn. Hắn đánh đập rồi giở trò đồi bại với người phụ nữ sắp sửa lên chức bà nội này ngay giữa ban ngày ban mặt. Tuy nhiên, nội dung của Elle không tập trung vào việc Michèle bị hãm hiếp như thế nào, mà chủ yếu khai thác diễn biến tâm lý cũng như cách bà xử trí trước tình huống rợn người đó ra sao (cảnh quay đầu tiên là khi mọi vụ việc đã kết thúc). Thay vì gọi cảnh sát hoặc đến bệnh viện, Michèle bình tĩnh thu dọn mọi thứ trong phòng, sau đó đi tắm và đặt sushi cho bữa tối như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra. Bà nói dối con trai rằng mình bị ngã xe đạp để che đậy về những vết bầm tím trên mặt, rồi lên giường ngủ với một cái búa, phòng trường hợp gã côn đồ kia có quay trở lại.

elle-sonphuoc-review

Trước và sau khi bị tấn công, Michèle luôn tạo cho mình một vỏ bọc hoàn hảo như vậy, dù cuộc sống của bà cũng đang gặp không ít rắc rối. Ông chồng cũ Richard hiện đang quen với một cô nàng trẻ đẹp và bà không hề thích điều đó. Cậu con trai Vincent thì chưa có công việc ổn định, lại còn đang bị dắt mũi bởi một cô ả mà bà gọi là “kẻ điên”. Người mẹ già của bà đang lên kế hoạch tổ chức đám cưới với một gã trai trẻ đáng tuổi con mình, trong khi bố bà thì ngồi tù vì tội sát nhân suốt mấy chục năm nay. Là giám đốc của một công ty sản xuất trò chơi điện tử, nhưng Michèle gần như bị tất cả các nhân viên ghét bỏ. Chưa kể, bản thân bà cũng đang quan hệ vụng trộm với ông chồng của cô bạn thân, đồng thời bắt đầu ve vãn anh hàng xóm trẻ đẹp đã có vợ ở nhà bên.

Có vẻ như Michele đã sẵn có quá nhiều vấn đề để bận tâm, nên vụ hãm hiếp kia cũng chỉ như là một tảng đá được ném vào mặt biển đang dậy sóng. Nhưng gã côn đồ bí ẩn thì vẫn chưa chịu dừng lại, hắn liên tục nhắn tin và đe dọa Michele dưới nhiều hình thức khác nhau, khiến bà không thể nào ngồi yên mà quyết truy cho bằng được hung thủ. Từ đó, nửa đầu của Elle pha trộn giữa không khí của một cuốn tiểu thuyết trinh thám với một loạt những tấn bi hài kịch về cuộc đời Michele. Bà mua trước vũ khí phòng thủ, học bắn súng và luôn chuẩn bị tư thế sẵn sàng, như một người thợ săn đang chờ đợi con mồi của mình. Nửa sau bộ phim là khi bộ mặt thật của tên biến thái được lật tẩy, cũng là lúc Michele lựa chọn một con đường vô cùng liều lĩnh: chơi trò mèo vờn chuột với chính kẻ đã tấn công mình.

elle-sonphuoc-review 1

Elle được xem là sự trở lại đầy bất ngờ của Paul Verhoeven sau mười năm vắng bóng trên ghế đạo diễn. Dù hiện đã bước sang độ tuổi 78, nhưng ông vẫn không ngần ngại chia sẻ về mong muốn thực hiện một dự án hoàn toàn khác biệt so với những gì mình từng làm trước đây. “Tôi nghĩ điều này rất quan trọng trong cuộc đời của một nghệ sĩ”, ông thổ lộ. Có lẽ chính vì quan điểm này, mà vị đạo diễn người Hà Lan đã quyết định rời bỏ Hollywood, dù đã từng thành công với một loạt bộ phim khoa học viễn tưởng nổi tiếng như RoboCop (1987), Total Recall (1990), Starship Troopers (1997), hay Basic Instinct (1992) – bộ phim vẫn được xem là tác phẩm kinh điển của dòng trinh thám gợi tình (erotic thriller). Sau khi về quê nhà để thực hiện tác phẩm đề tài thế chiến II Black Book vào năm 2006, Verhoeven mất tích để rồi trở lại với Elle, cũng là dự án phim nói tiếng Pháp đầu tiên trong sự nghiệp của ông.

Trái ngược với Paul Verhoeven, nữ diễn viên Isabelle Huppert đã có một quãng đường dài hoạt động miệt mài, bền bỉ và liên tục trong suốt năm thập kỷ qua. Dù hiện tại đã 63 tuổi, nhưng sức hút của Huppert vẫn chưa hề có dấu hiệu giảm nhiệt. Bà vẫn luôn là sự lựa chọn hàng đầu của các nhà làm phim tên tuổi, thường xuyên góp mặt trong các liên hoan phim lớn. Một điều bất ngờ là Huppert lại không phải là sự lựa chọn đầu tiên của Verhoeven cho vai diễn Michèle (ông đã nhắm kịch bản cho Marion Cotillard, Nicole Kidman hay Carice van Houten trước đó), nhưng bà đã chứng tỏ rằng mình là sự lựa chọn hoàn hảo nhất. Xuyên suốt thời lượng hơn 2 tiếng đồng hồ của bộ phim, Michele có không ít những hành động vô cùng đáng ghét. Bà bật cười trên bàn ăn khi người mẹ già tuyên bố sẽ đi thêm bước nữa, bà yêu cầu nhân viên của mình phải tụt quần xuống để “kiểm tra” dương vật, bà tiếp cận người yêu của chồng cũ chỉ để chắc chắn rằng mối quan hệ của họ sẽ không kéo dài. Nhưng tất cả đều trở nên thuyết phục và dễ dàng đồng cảm qua nét diễn xuất duyên dáng của Huppert.

elle-sonphuoc-review 2

Có thể nói, Isabelle Huppert chính là linh hồn, là hơi thở của Elle. Bà xử lý vai diễn Michèle bằng một lối diễn xuất nhẹ nhàng và tinh tế, nhưng đủ để lột tả chân dung một người phụ nữ có tâm hồn phức tạp và khó đoán định. Kịch bản của Elle – vốn được chuyển thể từ tiểu thuyết mang tên Oh xuất bản năm 2012 của nhà văn Pháp Philippe Djian – phần nào gợi nhớ đến Basic Instinct (bộ phim gắn liền với tên tuổi của Verhoeven), phần lại gợi nhớ đến The Piano Teacher (bộ phim gắn liền với tên tuổi của Huppert). Người xem vẫn thấy đâu đó hình ảnh của cô giáo dạy dương cầm Erika Kohut trong nhân vật Michèle LeBlanc, khi cả hai đều là những người phụ nữ khao khát tình dục. Trải nghiệm bị hãm hiếp ở một độ tuổi như của Michèle không phải là điều gì đáng để tự hào. Song, trái ngược với Erika, Michele luôn từ chối vị trí làm nạn nhân mà luôn muốn mình giữ vai trò “cầm cương”, là người ở thế chủ động. “Hổ thẹn chưa phải là cảm xúc đủ mạnh để khiến ta dừng làm bất cứ việc gì”, bà nói như thể đó là tuyên ngôn sống của bản thân, cũng là lời bào chữa cho tất cả những hành động có phần điên rồ trong phim.

Elle chắc chắn sẽ là một dấu son đáng nhớ của cả Paul Verhoeven lẫn Isabelle Huppert. Từ khi được ra mắt tại Liên hoan phim Cannes 2016, cả hai đã nhận được vô số lời tán dương của giới phê bình. Bộ phim cũng được chọn là đại diện của điện ảnh Pháp đi tranh cử Oscar năm nay ở hạng mục Phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc nhất. Dù chưa có danh sách chính thức, nhưng diễn xuất xuất thần của Isabelle Huppert cũng được dự đoán là sẽ đem lại cho bà một đề cử Oscar đầu tiên trong sự nghiệp của mình. Nếu đúng như vậy, thì sự xuất hiện của Huppert hứa hẹn sẽ tạo ra nhiều gây cấn trong chặng đua Oscar khốc liệt sắp tới.

Đánh giá: **** (4/5)

'Trivisa' - Làn gió mới từ điện ảnh Hong Kong
/

‘Trivisa’ – Làn gió mới từ điện ảnh Hong Kong

Vi Tiểu Bảo của Lộc Đỉnh Ký 1998 (Trần Tiểu Xuân), Lệnh Hồ Xung của Tiếu Ngạo Giang Hồ 1999 (Nhậm Hiền Tề) và Viên Thừa Chí của Bích Huyết Kiếm 2000 (Lâm Gia Đống) cùng hội ngộ trong Trivisa – một bộ phim tội phạm do Đỗ Kỳ Phong chỉ đạo sản xuất.


Lấy cảm hứng từ những những sự kiện có thật về cuộc đời của ba tên trùm tội phạm khét tiếng xứ Cảng Thơm, Trivisa (Tam đại tặc vương) tái hiện lại một Hong Kong đầy bạo loạn những năm cuối thập niên 90 – thời điểm mà mỗi khi nhắc đến ba từ “xã hội đen”, thì không thể không nghĩ ngay đến đất nước này.

Trở lại Hồng Kông thập niên 90

Hong Kong năm 1988, một thanh niên dùng súng bắn chết ba cảnh sát mặc thường phục ngay trên đường, khi họ đang tiến hành kiểm tra thẻ căn cước của hắn. Gã tên là Quý Chính Hùng (Lâm Gia Đống), một tên tội phạm đang bị truy nã được giới giang hồ mệnh danh là Vua Trộm. Phát súng mở màn Trivisa cũng là lần cuối cùng họ Quý hành động với tên thật của mình. Sau này, cứ mỗi lần tái xuất gã lại chọn cho mình một “vỏ bọc” mới nhằm trốn tránh sự truy lùng của cảnh sát. Cùng chung số phận bị truy nã với Quý Chính Hùng là Diệp Quốc Hoan (Nhậm Hiền Tề), nhưng hắn lại chọn một con đường khôn ngoan hơn. Sau khi cùng đồng bọn thực hiện một vụ cướp liên hoàn 5 tiệm vàng, cả băng nhóm cùng nhau đào tẩu sang đại lục để kinh doanh hàng buôn lậu. Thay vì sống chui lủi như họ Quý, họ Diệp thản nhiên trở thành giám đốc Trương, ông chủ của một cửa hàng đồ điện tử.

Trivia review - Son Phuoc 2

Một nước thì không thể có hai vua, nhưng ngoài Quý Chính Hùng và Diệp Quốc Hoan, thì giới xã hội đen ở Hong Kong còn tôn vinh một nhân vật khét tiếng khác nữa là Trác Tử Cường (Trần Tiểu Xuân). Cả ba được xem là tam đại tặc vương lững lẫy mà ai cũng phải khiếp sợ. Khác với hai tên còn lại, họ Trác không cướp cũng không trộm, mà lại chuyên bắt cóc con tin để tống tiền. Nhưng tiền có lẽ cũng không phải là mục đích chính của Trác, mà gã xem phạm tội như là một cách tiêu khiển của bản thân. Cảm thấy việc bắt cóc tống tiền không còn là thử thách với mình nữa, Trác Tử Cường nung nấu ý định thực hiện một điều gì đó to lớn hơn. Câu chuyện của Trivisa tiếp nối vào năm 1997 khi Trác Tử Cường quyết định truy tìm hai tặc vương hiện đang “mai danh ẩn tích” nhằm thực hiện một phi vụ để đời.

Trivisa là dự án đặc biệt mà vị đạo diễn nổi tiếng về phim tội phạm Đỗ Kỳ Phong đầu tư sản xuất. Ông đã từng được nghe câu chuyện về việc hợp tác giữa ba tên đạo tặc nổi tiếng nên ấp ủ ý định thực hiện bộ phim từ đó. Đỗ Kỳ Phong đã chọn ra ba gương mặt từng chiến thắng trong Liên hoan phim ngắn Fresh Wave – một cuộc thi mà ông khởi xướng từ năm 2005 để ủng hộ những nhà làm phim trẻ trong nước. Những cái tên được chọn bao gồm Frank Hui – Hứa Học Văn (thắng giải Phim hay nhất năm 2005), Jevons Au – Âu Văn kiệt (thắng giải Phim hay nhất năm 2006) và Vicky Wong – Hoàng Vĩ Kiệt (thắng giải Quay phim vào năm 2010), theo thứ tự lần lượt đảm nhận câu chuyện của Quý Chính Hùng, Diệp Quốc Hoan và Trác Tử Cường.

Trivia review - Son Phuoc 1

Phải nói rằng Trivisa là một ý tưởng đầy táo bạo của Đỗ Kỳ Phong, bởi đây cũng là tác phẩm điện ảnh đầu tay của cả ba đạo diễn trẻ nói trên. Mỗi người được giao một kịch bản độc lập ứng với từng nhân vật trong phim, sau đó họ phải tự tìm cách trao đổi với nhau để điều tiết câu chuyện. Ngay cả Đỗ Kỳ Phong cũng phải thừa nhận rằng chính nhiệt huyết của các nhà làm phim trẻ đã tạo nên thành công của bộ phim: “Ban đầu tôi đưa cho các đạo diễn chủ đề của bộ phim, nhưng cuối cùng họ lại lái nó theo những hướng đi hoàn toàn khác.” Phần biên tập cũng được thực hiện vô cùng công phu, dù thời lượng phim chỉ khoảng 90 phút nhưng hai nhà biên tập Allen Leung và David Richardson đã mất gần cả năm để chắp nối ba câu chuyện lại làm một. Chính vì vậy, mạch phim nhuẫn nhuyền và gần như không hề có một chi tiết nào trở nên thừa thãi. Thậm chí, nếu không biết trước thông tin về bộ phim, hẳn nhiều người sẽ khó thể ngờ rằng Trivisa là tác phẩm do ba đạo diễn cùng thực hiện.

Trivisa Movie Review 3 - Son Phuoc blog.jpg

Có một điểm cần chú ý, nếu như phong cách nổi tiếng của Đỗ Kỹ Phong chú trọng vào những pha hành động tột độ, thì Trivisa qua lối dẫn truyện của ba đạo diễn trẻ lại mang một màu sắc hoàn toàn trái ngược. Điểm sáng của bộ phim không nằm ở những cảnh đánh đấm, mà là ở diễn biến tâm lý và tính cách của các nhân vật. Ba tên đạo tặc trong phim được xây dựng như những kẻ phản anh hùng (anti-hero) một cách tuyệt đối. Chúng không có nhiều tình nghĩa như băng đảng giang hồ trong Exiled (2006), lại càng không có tôn ti trật tự rõ ràng như Hội Tam Hoàng của Election (2005) – những bộ phim gắn liền với tên tuổi đạo diễn họ Đỗ. Các nhà làm phim trẻ đã khắc họa những tên trùm tội phạm hết sức trần trụi và không khoan nhượng. Cuộc sống của chúng chẳng khác gì những tên lang bạt, không có nhiều màu hồng mà chỉ toàn là những dư vị đắng chát.

Trái ngược với sự mới mẻ của các đạo diễn, thì đảm nhận những nhân vật chính trong phim lại là ba gương mặt rất quen thuộc của cả điện ảnh lẫn truyền hình Hong Kong, bao gồm Lâm Gia Đống, Nhậm Hiền Tề và Trần Tiểu Xuân. Cả ba đều đã có thâm niên diễn xuất hơn 20 năm và cũng như các vai diễn “đại tặc vương” trong phim, họ đều là những cái tên nổi đình nổi đám ở xứ Hương Cảng những năm cuối thập niên 90. Cuộc hội ngộ đầy bất ngờ này của cả ba trên màn ảnh rộng một lần nữa lại là minh chứng cho câu nói “gừng càng già càng cay”. Người xem sẽ được gặp lại một Lâm Gia Đống lạnh lùng, ít nói nhưng một khi ra tay thì độc ác, không ngần ngại với vai Quý Chính Hùng; một Nhậm Hiền Tề lãnh đạm, nhún nhường đúng kiểu quân tử rơm trong vai Diệp Quốc Hoan; và một Trác Tử Cường mạnh mồn, lớn tiếng, không biết sợ là gì qua sự thể hiện của Trần Tiểu Xuân. Việc cả ba cùng xuất hiện trong một bộ phim điện ảnh về thập niên 90, không khỏi khiến người xem có cảm giác hoài cổ và bùi ngùi.

Trivia review - Son Phuoc 5

Dùng Phật giáo để lột tả một xã hội tàn bạo

Một cách đầy chủ ý, nhan đề Trivisa của bộ phim gợi cho người xem nhớ đến lời dạy của Đức Phật về tam độc – ba tính xấu có thể hủy hoại cuộc đời của mỗi con người, đó là: tham (tham dục), sân (sân hận), si (ngu si). Theo đó, câu chuyện của Quý Chính Hùng đại diện cho “tham”: kẻ vì tiền mà bất chấp mọi thủ đoạn để đạt được mục đích, ngay cả việc ra tay sát hại kẻ thù lẫn đồng minh của mình. Diệp Quốc Hoan đại diện cho “sân”: kẻ không biết kiềm chế cơn tức giận, nóng nảy, mà lại giữ oán hận trong lòng để rồi tìm cách trả thù. Cuối cùng, Trác Tử Cường đại diện cho “si”: kẻ vô minh, ngu muội, không phân biệt được phải trái đúng sai mà cứ đâm đầu vào con đường tội lỗi chỉ để thỏa mãn cái tôi ích kỷ của bản thân.

Xuyên suốt bộ phim, những tư tưởng của Phật giáo như luật nhân quả, ác giả ác áo liên tục trở thành “chất bán dẫn” kết nối đường dây của cả ba câu chuyện. Các nhân vật dù liên tục thay đổi danh tính, ngao du khắp nơi nhưng cuối cùng vẫn quay trở về Hong Kong như một định mệnh. Dường như chính xã hội là nguyên nhân sâu xa đẩy họ đi đến bước đường cùng. Quý Chính Hùng ôm mộng làm giàu bằng cách bán điện thoại ở Trung Quốc, nhưng vẫn tìm cách cướp tiệm vàng ở Hong Kong chỉ vì lợi ích trước mắt. “Bây giờ rất khó kiếm tiền”, hắn bào chữa.

Trivia review - Son Phuoc 3

Diệp Quốc Hoan chọn con đường làm ăn lâu dài, nhưng lại liên tục bị giới quan chức nhà nước tìm cách chèn ép, chà đạp. Còn những viên cảnh sát dưới góc nhìn của Trác Tử Cường thì chỉ là những kẻ bất tài vô dụng, để hắn càng có cớ tự do tung hoành. Tất cả trở thành những mảng màu tối giữa bức tranh về xã hội Hong Kong vốn đã đầy bất ổn.

Thực tế thì xã hội Hong Kong vẫn luôn bất ổn ngay cả ở thời điểm hiện tại, nhưng nền điện ảnh Hong Kong thì đã từng có một thời lẫy lừng với hàng loạt những tên tuổi lớn như Ngô Vũ Sâm, Lâm Lĩnh Đông, Châu Tinh Trì, Thành Long,… Có thể nói, Trivisa là minh chứng cho thấy các gương mặt đạo diễn trẻ hiện đang thổi những luồng sinh khi mới cho một điện ảnh vốn đã qua thời hoàng kim. Bộ phim xuất hiện như là thứ “trái ngọt” đầu tiên mà Đỗ Kỳ Phong thu được sau hơn một thập kỷ nuôi dưỡng Fresh Wave. Ở một khía cạnh khác, tên gọi Trivisa cũng tượng trưng cho ba tấm “thị thực” để ba đạo diễn trẻ của dòng phim ngắn bước chân vào thế giới điện ảnh. Các tác phẩm gần đây của các nhà làm phim trẻ như 10 Years hay Trivisa chính là tín hiệu đáng mừng dành cho nền điện ảnh Hong Kong một thời hưng thịnh.


Đánh giá: ***½ (3.5/5)

Bài viết cho Zing News.

/

‘The Wailing’ – Đỉnh cao mới của dòng phim kinh dị Hàn Quốc

Đỉnh cao mới của dòng phim kinh dị Hàn Quốc

Không khó để khẳng định, 2016 là một năm bội thu của thể loại kinh dị. Hàng loạt những bộ phim có kinh phí thấp như Lights Out, Don’t Breathe, 10 Cloverfield Lane, The Conjuring 2 hay The Shallows với ý tưởng mới lạ đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng khán giả, thu được thành công nhất định tại phòng vé. Về phía Châu Á, The Wailing (tạm dịch: Tiếng than) là một trong ba đại diện của điện ảnh Hàn Quốc tham dự LHP Cannes 2016 và nhận được vô số lời khen ngợi từ giới phê bình. Vẫn là câu chuyện trừ ma đuổi quỷ quen thuộc, nhưng dưới bàn tay nhào nặn của đạo diễn Na Hong-jin, bộ phim đem lại một trải nghiệm mới về sự sợ hãi, xen lẫn những nỗi mơ hồ khó thể đoán định. The Wailing là một minh chứng cho thấy, ngay cả khi dòng phim kinh dị đang dần “lên ngôi” tại Hollywood, thì Châu Á vẫn chưa bao giờ từ bỏ ngôi vị “ông hoàng” của thể loại này.

Từ một bé gái ngoan ngoãn hiền lành, Hyo-jin như biến thành một người hoàn toàn khác.

Khi cô con gái bé bỏng của mình bỗng nhiên trợn tròn mắt với bố rồi hét lên rằng: “Tao sẽ giết mày!”, cũng là lúc viên cảnh sát Jong-Goo (Kwak Do-won) nhận ra có điều gì đó bất thường đang hiện diện trong chính ngôi nhà của mình. Từ một bé gái ngoan ngoãn hiền lành, Hyo-jin như biến thành một người hoàn toàn khác. Cô bé trở nên háu ăn như thể đã bị bỏ đói lâu ngày, khắp người nổi lên những vết mấn đỏ và bắt đầu có những cử chỉ vô cùng kỳ lạ, ngay cả với những người thân thiết trong gia đình. Lần cuối cùng Jong-Goo còn thấy Hyo-jin bình thường là khi cô bé mang quần áo đến trụ sở cảnh sát để gửi cho bố. Đó là một đêm kinh hoàng không chỉ với Jong-Goo mà với cả dân làng Gokseong, khi ở đây liên tục diễn ra một loạt những vụ án mạng chưa rõ lời đáp.

The wailing review - Son Phuoc 04

Ở những cảnh quay đầu tiên của The Wailing, đạo diễn Na Hong-jin đưa người xem đến với làng Gokseong (cũng là tên gốc tiếng Hàn của bộ phim) vào một buổi sáng ngập chìm trong màn mưa. Khi trời vẫn còn nhá nhem tối, Jong-Goo nhận được điện thoại báo tin về một vụ giết người. Anh vội vã sửa soạn y phục, tranh thủ dùng cơm sáng rồi lao thẳng đến hiện trường. Ống kính máy quay theo sát những bước chân của viên cảnh sát, cho đến khi anh đột nhiên dừng lại, sững sờ trước cảnh tượng mà mình trông thấy: một người đàn ông gầy gò đang ngồi trước hiên nhà, toàn thân dính đầy máu, da dẻ lở loét như một cái xác đang bị thối rữa, hai mắt chỉ thấy lòng trắng mà không rõ đang nhìn về đâu. Sau lưng gã là hiện trường vụ thảm sát bao gồm toàn bộ gia đình vừa bị hắn đâm chết và cả một vài cái xác khác được đem đến.

Liệu có mối liên hệ gì giữa những vụ thảm sát ở làng Gokseong và thái độ kỳ lạ của Hyo-jin hay không? Kết quả xét nghiệm cho thấy gã sát nhân đã ăn phải một loại nấm độc có khả năng gây rối loạn thần kinh, khiến con người ta phát điên. Giả thiết này càng có cơ sở khi triệu chứng của hắn cũng trùng khớp với một số người dân khác trong làng, kể cả Hyo-jin. Tuy nhiên, Jong-Goo và cộng sự của mình lại chuyển hướng nghi ngờ đến một lão già người Nhật Bản (Jun Kunimura) vừa mới đến ngôi làng. Tất cả những sự kiện ở Gokseong chỉ bắt đầu kể từ khi lão xuất hiện. Một số lời đồn đại cho rằng ông lão sống trần trụi ở trên núi, ăn thịt thú rừng và đôi mắt đỏ như máu. Chưa kể khi Jong-Goo tìm cách đột nhập vào nhà lão, anh phát hiện hàng loạt tấm ảnh các nạn nhân được treo trên tường, trong một căn phòng được bài trí như một nghi thức cúng tế…

The wailing review - Son Phuoc 03

Tham chiếu đến nhiều tác phẩm kinh điển.

Với thời lượng 156 phút và nhịp phim khá chậm rãi, The Wailing gần như là một thách thức với bất kỳ một khán giả nào, đặc biệt là cái kết của bộ phim sẽ để lại cho người xem rất nhiều nghi vấn. Đạo diễn kiêm biên kịch Na Hong-jin đã chủ ý xây dựng tác phẩm của mình như một trò chơi ghép hình mà mỗi người xem phải tự tìm cách sắp xếp để tìm ra lời giải. Kịch bản phim gần như không đi theo cấu trúc ba hồi truyền thống, mà liên tục xoay chuyển với những tình tiết mới, mỗi phần lại mang một sắc thắc khác nhau. Bộ phim khởi đầu như một tác phẩm trinh thám (thriller), sau đó chuyển hướng sang một câu chuyện trừ tà (exorcism). Thậm chí, ban đầu giọng kể của Na Hong-jin có pha một chút hài hước đen (black comedy) nhưng càng về sau thì không khí của bộ phim càng thực sự trở nên tăm tối và cuối cùng mới trở về đúng với định nghĩa phim kinh dị (horror).

Vì được pha trộn từ nhiều thể loại khác nhau, nên có thể thấy The Wailing tham chiếu đến rất nhiều tác phẩm quen thuộc. Cốt truyện chính khiến ta liên tưởng ngay đến những “tượng đài” của dòng phim kinh dị, The Exorcist ­­(1973) hay The Shining (1980), khi vẫn là câu chuyện “trừ ma, đuổi quỷ” lồng ghép với tình cảm gia đình. Bối cảnh làng quê nghèo Gokseong của bộ phim lại gợi nhớ đến Memories Of Murder (2003) hay Mother (2009) của Bong Joon-ho, vốn được xem là những tác phẩm “kinh điển” của dòng phim hình sự Hàn Quốc. Thậm chí, Na Hong-jin còn đưa cả các yếu tố như xác sống (zoombie), kinh thánh hay tôn giáo vào mạch phim, nhằm đánh lạc hướng người xem.

The wailing review - Son Phuoc 02

Đáng chú ý, hai tác phẩm trước đó của Na Hong-jin là The Chaser (2008) và The Yellow Sea (2010) đều thuộc thể loại thriller với những cảnh hành động nghẹt thở, đặt trong bối cảnh đô thị phồn hoa. Chính vì vậy, có thể xem The Wailing là một bước chuyển mình đáng nhớ trong sự nghiệp của đạo diễn họ Na. Dù “trừ ma, đuổi quỷ” từ lâu đã không còn là chủ đề mới mẻ đối với các nhà làm phim Hollywood, nhưng ông đã tìm cách “định nghĩa” lại dòng phim này một lần nữa. Na Hong-jin sử dụng rất nhiều “nguyên liệu” quen thuộc sẵn có, nhưng đồng thời cũng tìm cách né tránh những lối mòn của thể loại kinh dị. Ông không hề sử dụng những yếu tố hù dọa bất ngờ (jump scare) để gây sự sỡ hãi, mà bản thân câu chuyện ông viết vốn đã chứa đầy chất “kinh dị”. Chính vì thế, The Wailing đã đem lại cho Na Hong-jin giải “Đạo diễn của năm” tại Directors’ Cut Awards 2016 và được hãng Fox International mua bản quyền để công chiếu tại Mỹ.

Na Hong-jin tìm cách né tránh những lối mòn của thể loại kinh dị

Còn nhớ trong The Chaser, nam diễn viên Ha Jung-woo vào vai một tên sát nhân điên loạn, giết người không cần bất kỳ một lý do. Đến The Yellow Sea, anh lại tiếp tục vào vai một gã sát thủ vượt biên theo yêu cầu mà cũng không biết rõ vì sao mình lại phải phạm tội. Tương tự như hai tác phẩm trước đó của Na Hong-jin, The Wailing tiếp tục đem cái cảm giác “không rõ vì sao” đến với người xem, nhưng ở một cường độ cao hơn hẳn. Nam đạo diễn luôn tìm cách dồn nhân vật của mình đến cuối chân tường và gần như không để cho họ bất kỳ một lối thoát. Xuyên suốt bộ phim, Jong-Goo không hề biết mình đang làm gì hay cần phải làm gì để cứu con gái. Anh cũng không rõ thế lực mà mình đang đối mặt là gì, là người hay là ma quỷ? Sự hoang mang và tuyệt vọng của Jong-Goo và cả dân làng Gokseong trong hành trình đi tìm sự thật chính là nỗi sợ hãi kinh hoàng mà chắc chắn sẽ khiến bất kỳ khán giả nào cũng phải “sởn gai ốc”, ngay cả khi bộ phim đã kết thúc.


Đánh giá: **** (4/5)


 

1 2 3 4 5 8
error: Alert: Nội dung đã được bảo vệ !!