Những đĩa nhạc quốc tế của năm 2014

Cũng như năm ngoái, tôi chọn ra mười đĩa nhạc mà mình nghe nhiều nhất, hoặc có nhiều điểm ấn tượng nhất. Vì nhiều lý do, tôi chỉ viết được hai bài trong số đó, riêng bài viết cho đĩa của U2 mang tính giới thiệu là chính.

1. Turn Blue – The Black Keys
(Pychedelic Rock – 05/2014)

I used to think, darlin’, you never did nothin’
But you were always up to somethin’

Sự nghiệp của The Black Keys có thể tạm chia làm hai giai đoạn: trước và sau khi cộng tác với Danger Mouse. Trong đó, Turn Blue là đĩa nhạc mang đậm màu sắc của Danger Mouse nhất, khi anh được đứng ngang hàng với hai thành viên của nhóm là Dan Auerbach (guitar, hát chính) và Patrick Carney (trống). Cũng vì vậy mà âm nhạc trong Turn Blue có nhiều điểm hơi giống với những dự án Danger Mouse từng thực hiện trước đó, cho Broken Bells, Norah Jones, Electric Guest… (tận dụng nhiều keyboard). Những ai đã quen thuộc với The Black Keys ngày cũ, sẽ có chút tiếc nuối khi thấy âm nhạc của nhóm ngày càng đổi khác, không còn âm hưởng blues rock, mà thiên hẳn về psychedelic rock. Song, dù The Black Keys hoàn toàn tuân theo sự điều khiển của Danger Mouse, nhưng không ai lép vế ai mà cả ba luôn giữ một vị trí đồng đều. Dễ thấy tiếng trống của Patrick luôn nổi bật trong mỗi ca khúc, còn giọng hát của Dan thì biến hóa đa dạng, sử dụng falsetto nhuần nhuyễn (Waiting On Words). Đặc biệt, màn solo guitar của Dan ở cuối bài Weight Of Love chính là lý do khiến Turn Blue thuộc dạng phải-nghe.

Nên nghe: Weight Of Love, Fever, Turn Blue.

Turn Blue - The Black Keys cover nsphuoc

2. Are we there – Sharon Van Etten
(Pop – 05/2014)

Every time the sun comes up,
I’m in trouble

Có thể tạm quên 21 của Adele, vì Sharon Van Etten đã làm ra một break-up album còn tuyệt vời hơn thế. Dù âm nhạc hay chủ đề không mới, nhưng cô vẫn có thể viết ra những bản tình ca đầy sức mạnh. Lời nhạc chua chát đậm chất hài hước đen (black comedy), xen lẫn mùi bạo lực không kém phần nếu so với những thước phim của Quentin Tarantino: Break my legs so I won’t walk to you, cut my tongue so I can’t talk to you, burn my skin so I can’t feel you, stab my eyes so I can’t see – một đoạn trích từ ca khúc Your love is killing me, diễn tả trọn vẹn cuộc sống đen tối khi không có tình yêu. Sau rất nhiều nỗi đau thể xác, cô “rít” lên một câu còn chua xót hơn gấp bội: you like it! Với Sharon Van Etten, mỗi buổi sáng thức dậy là đã bước chân vào thế giới của nỗi sầu muộn. Cô kết thúc đĩa nhạc bằng giọng cười của chính mình, đúng như cách cô đang giả vờ để che dấu những “vết sẹo” nội tâm. “Chúng ta đã ở đó chưa?” – cũng chỉ là câu hỏi mà cô tự dối lòng mình.

Nên nghe: Afraid Of Nothing, Everytime The Sun Comes Up, Your Love Is Killing Me.

Are we there – Sharon Van Etten cover nsphuoc

3. After the Disco – Broken Bells
(Alternative rock – 01/2014)

But I know better now, got it figured out
It’s a perfect world all the same

Năm lần được đề cử Grammy tại hạng mục Nhà sản xuất của năm, dường như Danger Mouse còn muốn tiếp tục nối dài thành tích đó trong năm 2014. Bên cạnh việc làm đĩa cho The Black Keys (Turn Blue) và U2 (Songs of Innocence) – hai tên tuổi sừng sỏ trong làng nhạc mainstream và indie, anh vẫn dành thời gian để đưa Broken Bells trở lại sau bốn năm vắng bóng. Đĩa đầu tay của nhóm khá thành công, nên mong đợi dành cho After the Disco là rất lớn. Có lẽ vì vậy mà đĩa không nhận được phản hồi tốt từ giới phê bình khi ra mắt. Nhưng nếu lắng nghe, dễ thấy âm nhạc trong After the Disco đa dạng và nhiều màu sắc hơn hẳn đĩa trước. Giọng ca của James Mercer thì vẫn ngọt ngào, nhưng phong cách của Danger Mouse thì liên tục thay đổi. Không gian phóng túng như đưa ta bước vào một chuyến du hành vũ trụ (một ca khúc mang tên Lazy Wonderland). Càng về cuối, anh càng thử nghiệm những phối âm mới, không dễ nghe như U2 hay The Black Keys. After the disco đơn giản chỉ là cuộc dạo chơi của hai người bạn lâu năm không gặp, chơi để thỏa mãn niềm đam mê âm nhạc.

Nên nghe: Perfect World, After Disco, Holding On For Life.

After The Disco - Broken Bells cover nsphuoc
4. I Never Learn – Lykke Li

(Pop – 05/2014)

Lonely chimes, sing of pain
There’s a storm, only love remains

I Never Learn khép lại chặng đường sáu năm tìm kiếm tình yêu của Lykke Li, kể từ đĩa đầu tay Youth Novels (2008), đến Wounded Rhymes (2011), khép lại một triogy như cô tự nhận. Âm nhạc trưởng thành và u tối hơn cả hai đĩa trước, từ cách viết lời cho đến cách thể hiện. Chín ca khúc phối theo phong cách dream pop, vẫn có một vài bài được viết theo kiểu giai điệu bắt tai, chú trọng điệp khúc nhằm tạo hit (Just Like A Dream, Never Gonna Love Again), nhưng không thể phủ nhận rằng chính chất giọng của Lykke Li mới là điểm nhấn tạo nên sức hấp dẫn cho cả đĩa. Nền nhạc đôi khi sáng bừng, vui tươi nhưng người hát thì luôn giữ một sắc thái ủ rũ, mệt nhoài. Vẻ đẹp của bóng tối giữa ánh sáng – chính là cảm giác mà Lykke Li mang lại trong I Never Learn. Về mặt thương mại, đây cũng là đĩa thành công nhất của cô tính đến thời điểm hiện tại (đứng thứ 29 trong bảng xếp hạng âm nhạc Mỹ). Nếu có điều chưa bằng lòng, thì có lẽ là thời lượng quá ngắn (chỉ hơn 30 phút một chút). Có thể đọc thêm bài viết dài ở đây.

Nên nghe: I Never Learn, Silver Line, Just Like A Dream.


I Never Learn - Lykke Li cover nsphuoc5. Tremors – Sohn
(Electronic – 08/2014)

Somebody better show me how I feel
‘Cause I know I’m not at the wheel

Sohn là nghệ danh của nhạc sĩ kiêm nhà sản xuất Anh quốc Christopher Taylor. Lựa chọn điện tử, nhưng Sohn hướng người nghe đến với những âm thanh mang cảm giác analog, ấm áp và chân thật, thay vì lạm dụng autotune theo kiểu rô bốt biết hát như trào lưu hiện nay. Sohn chú trọng nhiều về không gian và cảm xúc, nên dẫu có một giọng hát rất hay, thì đôi lúc anh vẫn tự để mình chìm xuống hẳn so với bản phối. Từ đầu đến cuối, âm nhạc liên tục thay đổi chứ không hề cố định theo một tiêu chuẩn nào. Đôi lúc là upbeat khiến ta muốn nhún nhảy, khi nhẹ nhàng thư giãn, khi lại là ambient lắng đọng. Mỗi ca khúc mang một màu sắc riêng, nhưng dễ thấy Artifice là ca khúc hay nhất trong đĩa. Bài hát mang giai điệu giống như những trò chơi điện tử thập niên 90, lồng giữa tiếng beat đập từ tai này sang tai kia, như đôi tay của một người đang đánh trống. Khuyết điểm của Sohn là để Artifice lên đầu, nên cảm giác người nghe sẽ chùn xuống khi càng về cuối đĩa anh thiên về thử nghiệm nhiều hơn. Nhưng dẫu sao, đây cũng là một đĩa đầu tay đáng thưởng thức.

Nên nghe: Artifice, Bloodflows, Fool.

Tremors – Sohn cover nsphuoc

6. Human Nature – Caught a Ghost
(Electronic – 04/2014)

But is there such a thing when you watched the rain,
wash away everything that you thought you’d found?

Kết hợp cổ điển với hiện đại – một trào lưu không mới. Nhưng Caught a Ghost vẫn gây bất ngờ khi pha trộn hai yếu tố đó một cách rất ngọt ngào. Đứng đầu nhóm nhạc là Jesse Nolan, một nam ca-nhạc sĩ kiêm nhà sản xuất đến từ Los Angeles. Cộng tác cùng anh gồm nữ diễn viên Tessa Thompson (hát bè) và cậu bạn nối khố Stephen Edelstein (trống). Vốn đam mê dòng rap, soul và nhạc điện tử từ bé, nên Jesse quyết định đưa tất cả vào đĩa đầu tay của nhóm. Có thể nghe thấy những nhạc cụ quen thuộc của jazz, soul, funk, hòa với tiếng synth, beat dồn dập của dubstep, hip-hop. Nhịp điệu rộn rã, chất giọng quyết rũ, Human Nature tập hợp những bản pop bắt tai ngay từ lần nghe đầu tiên, nhưng lời ca thì sâu sắc, nhiều chất chứa. Đĩa hấp dẫn người nghe bởi chất âm hoài cổ được thể hiện bởi một giọng hát lịch lãm, truyền cảm.

Nên nghe: No Sugar In My Coffee, Time Go, Human Nature.

Human Nature - Caught a Ghost cover nsphuoc

7. Barragán – Blonde Redhead
(Experimental Rock – 09/2014)

I saw you dripping sunlight
I saw you dripping moonlight

Thành lập từ năm 1993, Blonde Redhead là nhóm indie do nữ ca sĩ người Nhật Kazu Makino cộng tác cùng hai anh em sinh đôi Simone và Amedeo Pace. Barragán là đĩa nhạc thứ 9 của nhóm, nhưng lại mang đậm tính thử nghiệm, cho thấy sức sáng tạo vô hạn của bộ ba đến từ New York này. Âm nhạc trong đĩa chuyển hẳn về phong cách tối giản, xử lý tinh tế, tiết chế nhạc cụ. Ca khúc chủ đề mở màn gợi nhớ đến những bản nhạc không lời của Toru Takemitsu, với tiếng guitar xen lẫn chim hót, tiếng sáo rít từng hồi tạo nên một không gian êm ái, “vô tiền thoáng hậu”. Ca khúc thứ hai, Lady M, thì xoay 180 độ với nhịp điệu bập bùng, trong khi Kazu Makino nhẹ nhàng cất lên giọng hát mỏng như sương. Đến Cat On Tin Roof thì cô có chút biếng nhác, như con mèo lười ngủ ngày. Giọng ca còn lại là Amedeo Pace cũng được hát solo trong vài bài, như Dripping – một bản nhạc dance kết hợp chill-out, hay Mind To Be Had – ca khúc dài nhất đĩa, nhưng nhạc điệu bám vào trí óc ta ngay lập tức. Barragán vừa đẹp đẽ, mơ màng, lại vừa phức tạp, nhiều màu sắc – như những giấc mơ mà Haruki Murakami thường thể hiện trong những cuốn tiểu thuyết của mình.

Nên nghe: Lady M, Mind To Be Had, Dripping.

Barragan - Blonde Redhead cover nsphuoc

8. Rave Tapes – Mogwai
(Post-rock – 01/2014)

Rave Tapes là đĩa nhạc thứ tám của Mogwai và được phát hành vào thời điểm rất sớm trong năm, nhưng không vì thế khiến nó dễ bị quên lãng. Âm nhạc trong Rave Tapes gần như gắn liền với nhịp sống của thành phố hiện đại – sử dụng nhiều tiếng synth và nhạc cụ điện tử – nhưng Mogwai luôn cố gắng tạo ra một chất âm analog và không khí tĩnh tại, thay vì ồn ào, náo nhiệt, nhiều năng lượng như hình ảnh thường thấy. Điều này có vẻ bình thường nếu đặt trong trường hợp là một nhóm nhạc mới toanh. Song, Mogwai đã tồn tại hơn hai thập kỷ và Rave Tapes, bất ngờ lại đánh dấu một sự thay đổi của nhóm nhạc dày dạn kinh nghiệm đến từ Scotland.

Nên nghe: Heard About You Last Night, Simon Ferocious, Remurdered

Rave Tapes – Mogwai cover nsphuoc

9. Lana Del Rey – Ultraviolence
(Pop – 06/2014)

Share my body and my mind with you,
That’s all over now.

Lana Del Rey thực hiện Ultraviolence với sức ép từ thành công đáng gờm của Born To Die, và mức độ nổi tiếng của cô cũng đã nhân rộng gấp nhiều lần so với hai năm trước đó. Nội dung và ca từ có thể chưa thoát khỏi được hình ảnh quen thuộc của cô, nhưng âm nhạc rõ ràng đã được nâng một bậc nhờ nhà sản xuất Dan Auerbach – guitar và hát chính của The Black Keys nói trên. Khác với nhiều người, Dan để cho Lana thử nghiệm những âm thanh mới ngay từ những bài hát đầu tiên. Cruel World u tối, Ultraviolence tuyệt vọng, Shades Of Cool thống thiết. Không gian bị dồn nén, bóp nghẹt bởi âm hưởng psychedelic rock pha trộn dream pop. Đĩa đơn mở màn West Coast cũng là một thử nghiệm sáng giá của Dan dành cho Lana – phóng khoáng và tươi sáng so với âm nhạc vốn u buồn của cô. Cũng vì thế, phần còn lại của đĩa lại thiên về pop sở trường và kém thú vị hẳn so với nửa đầu. Có thể đọc thêm bài viết dài ở đây.

Nên nghe: Cruel World, Shades Of Cool, West Coast.

Lana Del Rey - Ultraviolence cover nsphuoc

10. Songs of Innocence – U2
(Pop rock – 09/2014)

Baby, every dog on the street
Knows that we’re in love with defeat

Songs of Innocence là đĩa cuối cùng từ bộ ba đĩa mà Danger Mouse thực hiện trong năm nay, cũng là đĩa phát hành trễ nhất. Riêng với khán giả hâm mộ U2, nó mang một ý nghĩa lớn hơn hẳn: đánh dấu sự trở lại của nhóm sau 5 năm, đồng thời mở ra một loạt dự án mang tính cá nhân (đĩa sau sẽ có tên là Songs of Experience). Thật tiếc vì Danger Mouse đã gắn bó với dự án này trong suốt một thời gian dài nhưng lại không thực hiện tất cả các ca khúc. Nửa đầu đĩa có sự “nhúng tay” của những nhà tạo hit trứ danh Paul Epworth (Adele, Coldplay), Ryan Tedder (Beyonce, Kelly Clarkson) – một nỗ lực của U2 trong việc hướng âm nhạc của mình đến với khán giả trẻ, và nhóm đã thành công. Nửa cuối đĩa do Danger Mouse sản xuất chính, vì thế không dễ nghe bằng nửa đầu, nhưng thú vị và nhiều màu sắc hơn hẳn. Ca khúc kết thúc The Troubles với sự góp giọng của Lykke Li cũng là một điếm sáng đáng kể. Có thể đọc thêm bài tôi viết cho Esquire Việt Nam ở đây.

Nên nghe: Every Breaking Wave, The Troubles, Sleep Like A Baby Tonight.


Songs of Innocence - U2 cover nsphuoc

Bài liên quan:
Những đĩa nhạc quốc tế của năm 2013

Advertisements
Comments
8 Responses to “Những đĩa nhạc quốc tế của năm 2014”
  1. darkhell1510 nói:

    Mình rất thích bài review này của bạn. Không biết bạn update thông tin nhạc ở đâu nhỉ? Cho mình xin tên vài trang web uy tín. Cảm ơn bạn.

  2. thanht12 nói:

    Cảm ơn bạn rất nhiều khi chia sẻ bài viết. Mình chưa có cơ hội được nghe hết mấy album này, trong danh sách này mình chỉ có nghe được album của Lana Del Rey thôi, với lại nhiều cái tên ca sĩ trong này nghe thấy lạ quá.D

  3. nimmoHP nói:

    Album Nostalgia của Annie Lennox cũng khá hay. Album là tập hợp những ca khúc jazz, soul, blue nổi tiếng được cover lại. Giọng Anne Lennox là giọng trầm giờ còn thấp hơn theo tuổi tác nhưng nhờ vậy bà đã truyền tải trọn vẹn chất blue, soul của bài hát. 1 album chẳng ai thèm quan tâm của 2014 nhưng lại thuyết phục được mình.

  4. LF nói:

    Turn Blue thật tuyệt, nỗi buồn bao trùm từng bài hát. Mình đặc biệt thích 10 Lovers, Weight of Love và In Our Prime. Tiếng trống với guitar đem lại cảm giác thỏa mãn da diết.

  5. joenour nói:

    Cảm thấy Turn Blue và Songs of Innocence bị giới phê bình dìm quá cơ mà mình lại quá thích 2 album này :v

Trackbacks
Check out what others are saying...
  1. […] Những đĩa nhạc quốc tế của năm 2014 […]

  2. […] Bài liên quan: – Những đĩa nhạc quốc tế của năm 2013 – Những đĩa nhạc quốc tế của năm 2014 […]



Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

  • Cuộc săn cừu hoang
  • Nếu một đêm đông có người lữ khách
  • Lược sử máy kéo bằng tiếng Ukraina
  • Một tiểu thuyết Pháp
  • Mùa thu của cây dương
  • T Mất Tích
  • Một vài bài viết về sách (ấn để xem)

    Thang Máy Sài Gòn
%d bloggers like this: